Tập thơ: Thanh Hiên thi tập 清軒詩集 – Nguyễn Du P3

Tập thơ Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804) của Nguyễn Du là giai đoạn 3 trong tập thơ Thanh Hiên thi tập nổi tiếng. Tập thơ chữ hán gồm 18 bài với nhiều chủ đề khác nhau. Mời quý độc giả cùng thưởng thức để hiểu rõ phong cách thơ Nguyễn Du nhé.

Ký hữu (II) 寄友 • Gửi bạn (II)

寄友
鴻山山月一輪明,
千里長安此夜情。
太璞不全眞面目,
一州何事小功名。
有生不帶公侯骨,
無死終尋豕鹿盟。
羨殺北窗高臥者,
平居無事到虛靈。
Ký hữu (II)
Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh,
Thiên lý Trường An thử dạ tình.
Thái phác bất toàn chân diện mục,
Nhất châu hà sự tiểu công danh.
Hữu sinh bất đới công hầu cốt,
Vô tử chung tầm thỉ lộc minh.
Tiễn sát bắc song cao ngoạ giả,
Bình cư vô sự đáo hư linh.
Dịch nghĩa
Đêm nay trên núi Hồng Lĩnh, trăng sáng vằng vặc,
Ở Trường An xa ngàn dặm, tâm tình tôi thật ngao ngán.
Tôi như viên ngọc trong đá không giữ vẹn được mặt thật,
Chút công danh nho nhỏ ở một châu có đáng gì?
Sinh ra vốn chẳng mang sẵn cốt công hầu, chưa chết,
Nhất định có ngày lại làm bạn với hươu nai.
Rất thèm được như bạn được nằm khểnh bên cửa sổ phía bắc,
Thảng thích chẳng có gì bận đến tâm linh.

Sơ nguyệt 初月 • Trăng non

初月
吸得陽光纔上天,
初三初四未團圓。
嫦娥妝鏡微開匣,
壯士彎弓不上弦。
千里關山無改色,
一庭霜露共愁眠。
徘徊正憶鴻山夜,
卻在羅浮江水邊。
Sơ nguyệt
Hấp đắc dương quang tài thướng thiên,
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên.
Thường Nga trang kính vi khai hạp,
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền.
Thiên lý quan san vô cải sắc,
Nhất đình sương lộ cộng sầu miên.
Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ,
Khước tại La Phù giang thuỷ biên.
Dịch nghĩa
Trăng hút được ánh sáng mặt trời, vừa mới ló lên,
Mồng ba mồng bốn chưa tròn.
Tấm gương của chị Hằng Nga chưa hé nắp,
Vành cung tráng sĩ chưa mắc dây.
Ở nơi nghìn dặm quan san, trăng vẫn không thay đổi vẻ đẹp,
Đầy sân sương móc, cùng trăng nằm ngủ, lòng buồn hiu.
Bồi hồi nhớ đêm nào còn ở dưới chân núi Hồng,
Bây giờ đã ở trên bến sông La Phù.

La Phù giang thuỷ các độc toạ 羅浮江水閣獨坐 • Ngồi một mình trên lầu cạnh sông La Phù

羅浮江水閣獨坐
水閣閣下江水深,
水閣閣上人沉吟。
悠悠雲影變晨夕,
滾滾浪花浮古今。
塵世百年開眼夢,
鴻山千里倚欄心。
徘徊對影獨無語,
白髮數莖垂我襟。
La Phù giang thuỷ các độc toạ
Thuỷ các các hạ, giang thuỷ thâm,
Thuỷ các các thượng, nhân trầm ngâm.
Du du vân ảnh biến thần tịch,
Cổn cổn lãng hoa phù cổ câm (kim).
Trần thế bách niên khai nhãn mộng,
Hồng sơn thiên lý ỷ lan tâm.
Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ,
Bạch phát sổ hành thuỳ ngã khâm.
Dịch nghĩa
Ngồi một mình trên thuỷ các sông La Phù,
Dưới thuỷ các, nước sông sâu, trên thuỷ các, người ngồi trầm ngâm.
Bóng mây lững thững sớm chiều biến đổi,
Lớp sóng cuồn cuộn kéo cả cổ kim đi.
Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mắt mở,
Tựa lan can, lòng nhớ núi Hồng nơi ngàn dặm.
Một mình bồi hồi ngắm bóng, chẳng nói năng gì,
Mấy sợi tóc bạc phất phơ rủ xuống tà áo.

Ngẫu hứng kỳ 1 偶興其一 • Ngẫu hứng kỳ 1

偶興其一
初更鼓角五更雞,
終夜徘徊思轉迷。
明月滿天何故故,
西風吹我正凄凄。
愓殘物性悲鳧脛,
刻雒天真失馬蹄。
若遇山中糜鹿友,
煙霞舊話不堪提。
Ngẫu hứng kỳ 1
Sơ canh cổ giốc, ngũ canh kê,
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê.
Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố,
Tây phong xuy ngã chính thê thê.
Thương tàn vật tính bi phù hĩnh,
Khắc lạc thiên chân thất mã đề.
Nhược ngộ sơn trung my lộc hữu,
Yên hà cựu thoại bất kham đề.
Dịch nghĩa
Canh một nghe tiếng trống, tiếng tù và,
Canh năm nghe tiếng gày gáy, suốt đêm bồi hồi, nghĩ quẩn nghĩ quanh.
Làm sao trăng sáng đầy trời thế mãi?
Gió tây thổi, ta thấy lạnh buốt.
Làm hại tính vật, thương cho chân con vịt nước,
Xuyên tạc thiên chân, mà mất đạo lý mã đề.
Nếu gặp bạn hươu nai trong núi,
Khó mà nói đến chuyện mây khói ngày trước nữa.

Ngẫu hứng kỳ 2 偶興其二 • Ngẫu hứng kỳ 2

偶興其二
一淚天涯洒斷蓬,
羅浮江上起秋風。
黃雲白水兩相照,
急管悲絲萬不同。
六尺拘縻長役役,
四時拋擲太匆匆。
征鴻影裏家何在,
隱隱瓊雲三兩峰。
Ngẫu hứng kỳ 2
Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng,
La Phù giang thượng khởi thu phong.
Hoàng vân bạch thuỷ lưỡng tương chiếu,
Cấp quản bi ty vạn bất đồng.
Lục xích câu my trường dịch dịch,
Tứ thì phao trịch thái thông thông.
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại?
Ẩn ẩn Quỳnh vân am lưỡng phong.
Dịch nghĩa
Ở nơi chân trời, thương mình như ngọn cỏ bồng lìa gốc mà rơi lệ,
Gió thu đã nổi trên sông La Phù.
Mây vàng và nước trắng soi chiếu lẫn nhau,
Tiếng sáo gấp, tiếng tơ buồn không hoà hợp chút nào!
Tấm thân sáu thước bị câu thúc, cứ vất vả mãi,
Bốn mùa đi qua tựa thoi đưa, sao chóng thế!
Trong bóng chim hồng bay đằng kia, nhà mình ở đâu?
Chỉ thấy thấp thoáng vài ba ngọn núi trong đám mây phía Quỳnh Côi.

Thanh minh ngẫu hứng 清明偶興 • Tiết thanh minh ngẫu hứng

清明偶興
東風晝夜動江城,
人自悲悽草自青。
春日有身非少壯,
天涯無酒對清明。
村歌初學桑麻語,
野哭時聞戰伐聲。
客舍含愁已無限,
莫敎茅草近階生。
Thanh minh ngẫu hứng
Đông phong trú dạ động giang thành,
Nhân tự bi thê, thảo tự thanh.
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
Mạc giao mao thảo cận giai sinh.
Dịch nghĩa
Gió đông thổi qua toà thành bên sông suốt ngày đêm.
Người buồn thì cứ buồn, cỏ xanh thì cứ xanh.
Ngày xuân, mình có thân nhưng không còn trẻ nữa,
Ở góc trời, không có rượu uống trong tiết thanh minh.
Câu hát thôn dã giúp ta hiểu được tiếng nói của kẻ trồng gai, trồng dâu.
Ngoài đồng nội thỉnh thoảng nghe tiếng người khóc như buổi chiến tranh.
Ở nơi lữ xá đã buồn quá rồi,
Chớ để cỏ săng mọc gần thêm!

Mộ xuân mạn hứng 暮春漫興 • Cảm hứng cuối xuân

暮春漫興
一年春色九十日,
拋擲春光殊可憐。
浮世功名看鳥過,
閒庭節字帶鶯遷。
側身不出有形外,
千歲長懮未死前。
浮利榮名終一散,
何如及早學神仙。
Mộ xuân mạn hứng
Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật,
Phao trịch xuân quang thù khả liên.
Phù thế công danh khan điểu quá,
Nhàn đình tiết tự đới oanh thiên.
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại,
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền.
Phù lợi vinh danh chung nhất tán,
Hà như cập tảo học thần tiên ?
Dịch nghĩa
Một năm có chín mươi ngày xuân,
Để cho cảnh xuân trôi qua, thật đáng tiếc!
Công danh ở đời nào khác cánh chim bay vút,
Trước sân vắng, thời tiết cũng theo chim oanh mà thay đổi.
Tấm thân không thể thoát ra khỏi vòng hữu hình,
Chưa chết, cứ lo mãi chuyện nghìn năm.
Danh lợi hão huyền cuối cùng tiêu tan hết,
Sao bằng hãy sớm theo đạo thần tiên!

Thanh Quyết giang vãn diểu 清決江晚眺 • Chiều ngắm cảnh sông Thanh Quyết

清決江晚眺
浮橋盡處出平田,
歷歷青山在眼前。
古徑樵歸明月擔,
潮門魚送夕陽船。
茫茫遠水三春樹,
落落人家兩岸煙。
極目鄉關在何處,
征鴻數點白雲邊。
Thanh Quyết giang vãn diểu
Phù kiều tận xứ xuất bình điền,
Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền.
Cổ kính tiều quy minh nguyệt đảm,
Triều môn ngư tống tịch đương thuyền.
Mang mang viễn thuỷ tam xuân thụ,
Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên.
Cực mục hương quan tại hà xứ?
Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên.
Dịch nghĩa
Hết chiếc cầu nổi là đến cánh đồng,
Trước mắt thắy rõ từng đợt núi xanh.
Dưới bóng trăng, bác tiều gánh củi về trên con đường mòn,
Lúc chiều tà, nhà chài đẩy chài ra khơi nhân khi triều lên.
Phía xa, nước sông mờ mịt lẫn bóng cây mùa xuân,
Khói bay từ mấy nóc nhà lác đác hai bên bờ sông.
Cố ráng mắt nhìn xem quê hương mình ở chỗ nào?
Chỉ thấy vài chấm nhỏ, đó là những cánh chim hồng bay lên đám mây trắng.

Đồng Lư lộ thượng dao kiến Sài Sơn 同廬路上遙見柴山 • Trên đường Đồng Lư, xa thấy núi Thầy

同廬路上遙見柴山
柴山山上多浮雲,
柴山山下石磷磷。
同廬路上西翹首,
秀色蒼然來照人。
歷歷樓臺天外見,
微微鐘鼓月中聞。
青衫走遍紅塵路,
猿鶴何從認舊鄰。
Đồng Lư lộ thượng dao kiến Sài Sơn
Sài Sơn sơn thượng đa phù vân,
Sài Sơn sơn hạ thạch lân lân.
Đồng Lư lộ thượng tây kiều thủ,
Tú sắc thương nhiên lai chiếu nhân.
Lịch lịch lâu đài thiên ngoại kiến,
Vi vi chung cổ nguyệt trung văn.
Thanh sam tẩu biến hồng trần lộ,
Viên hạc hà tòng nhận cựu lân?
Dịch nghĩa
Trên đỉnh núi Thầy, lắm mây nổi,
Dưới chân núi Thầy, đá lởm chởm.
Đi trên đường Đồng Lư, ngoảnh mặt nhìn về phía tây,
Màu xanh đẹp của núi chiếu vào người.
Xa xa, lâu đài hiện lên rõ mồn một,
Nghe văng vẳng tiếng chuông tiếng trống trong ánh trăng.
Kẻ mặc chiếc áo xanh đi khắp cõi bụi hồng,
Con vược, con hạc làm sao nhận ra người xóm cũ?

Đồng Lung giang 同籠江 • Sông Đồng Lung

同籠江
同籠江水去悠悠,
今古閒愁不住流。
沙嘴殘蘆飛白鷺,
隴頭落月臥寒牛。
亂山翠接孤城暮,
水竹寒生小店秋。
羨爾野鷗隨水去,
浮生勞碌幾時休?
Đồng Lung giang
Đồng Lung giang thuỷ khứ du du,
Kim cổ nhàn sầu bất trú lưu.
Sa chuỷ tàn lô phi bạch lộ,
Lũng đầu lạc nguyệt ngoạ hàn ngưu.
Loạn sơn thuý tiếp cô thành mộ,
Thuỷ trúc hàn sinh tiểu điếm thu.
Tiễn nhĩ dã âu tuỳ thuỷ khứ,
Phù sinh lao lục kỷ thì hưu ?
Dịch nghĩa
Nước sông Đồng Lung chảy xa thăm thẳm,
Mối sầu kim cổ cũng trôi theo dòng nước không ngừng.
Đàn cò trắng bay trên đám lau tàn cuối bãi cát,
Con trâu nằm đầu ghềnh dưới bóng trăng tà lạnh lẽo.
Buổi chiều, những ngọn núi xanh lởm chởm tiếp liền với toà thành trơ trọi,
Đương tiết thu, mấy khóm tre nước toả hơi lạnh quanh túp lều nhỏ.
Thấy bầy chim âu lềnh bềnh trôi theo mặt nước mà thèm,
Cuộc sống vất vả bao giờ mới thôi ?

Lạng Sơn đạo trung 諒山道中 • Trên đường đi Lạng Sơn

諒山道中
萬木山前可卜居,
白雲在岫水通渠。
山僧對竹兩無恙,
牧豎騎牛一不如。
影裏鬚眉看老矣,
夢中松菊憶歸與。
坐家村叟多閒事,
只為平生不讀書。
Lạng Sơn đạo trung
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư,
Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ.
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng,
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như.
Ảnh lý tu my khan lão hỷ,
Mộng trung tùng cúc ức quy dư.
Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự,
Chỉ vị bình sinh bất độc thư.
Dịch nghĩa
Có thể dựng ngôi nhà trước rừng cây kia mà ở,
Trên núi có mây trắng, lại có khe nước chảy.
Nhà sư và khóm trúc, cả hai đều vô sự,
Chẳng ai bằng em bé cưỡi trâu ung dung kia!
Soi gương nhìn mày râu, biết mình đã già rồi,
Trong mộng thấy tùng cúc, lại nhớ đến chuyện muốn về vườn.
Ông già thôn quê ngồi trong nhà nhàn rỗi quá,
Được như thế, chỉ vì bình sinh không đọc sách.

Quỷ Môn đạo trung 鬼門道中 • Trên đường qua Quỷ Môn

鬼門道中
鬼門石徑出雲根,
征客南歸欲斷魂。
樹樹東風吹送馬,
山山落月夜啼猿。
中旬老態逢人懶,
一路寒威杖酒溫。
山塢何家大貪睡,
日高猶自掩柴門。
Quỷ Môn đạo trung
Quỷ môn thạch kính xuất vân côn (căn),
Chinh khách nam quy dục đoạn hồn.
Thụ thụ đông phong xuy tống mã,
Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên.
Trung tuần lão thái phùng nhân lãn,
Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn.
Sơn ổ hà gia đại tham thuỵ?
Nhật cao do tự yểm sài môn.
Dịch nghĩa
Đường đá ở núi Quỷ Môn từ chân mây đi ra,
Lữ khách về nam trông thầy mà kinh hồn.
Gió đông thổi qua hàng cây vào đám ngựa đi tiễn,
Trăng tà lặn sau dãy núi, ban đêm nghe tiếng vượn hú.
Ta đang độ tuổi trung niên mà đã có vẻ già, rất ngại chuyện thù tiếp,
Dọc đường trời lạnh, nhờ hơi rượu mà ấm lòng.
Trong xóm dưới núi kia, nhà ai ham ngủ thế?
Mặt trời lên cao rồi mà cửa tre còn đóng kín.
Quỷ Môn quan thuộc khu vục ải Chi Lăng, xã Chi Lăng. Năm 1804 thời nhà Nguyễn, Nguyễn Du trên đường đi sứ sang nhà Thanh, khi qua Chi Lăng đã làm bài thơ này. Theo Việt Hoa thông sứ sử lược của Bế Lãng Ngoạn và Lê Văn Hoè, sứ bộ Việt Nam trên bước đường thiên lý sang Trung Hoa đều dừng tại Quỷ Môn quan trước khi tiến đến ải Nam Quan.

Đề Nhị Thanh động 題二青洞 • Đề động Nhị Thanh

題二青洞
盤古初分不記年,
山中生窟窟生泉。
萬般水石擅大巧,
一粒乾坤開小天。
滿境皆空何有相?
此心常定不離禪。
大師無意亦無盡,
俯嘆城中多變遷。
Đề Nhị Thanh động
Bàn Cổ sơ phân bất ký niên,
Sơn trung sinh quật, quật sinh tuyền.
Vạn ban thuỷ thạch thiện đại xảo,
Nhất lạp càn khôn khai tiểu thiên.
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng?
Thử tâm thường định bất ly thiền.
Đại sư vô ý diệc vô tận,
Phủ thán thành trung đa biến thiên.
Dịch nghĩa
Từ Bàn Cổ đến nay, không biết đã bao nhiêu năm rồi,
Trong núi có hang, trong hang có suối.
Mọi thứ, suối, đá sắp đặt rất khéo,
Một hạt càn khôn mở ra một khoảng trời nho nhỏ.
Khắp cõi đã là không thì làm gì có tướng?
Lòng này thường định không xa rời đạo thiền.
Đạo Phật không tâm, không ý bao la vô tận,
Cúi nhìn xuống thấy thành có nhiều sự đổi thay mà ngậm ngùi khôn xiết.

Vọng Phu thạch 望夫石 • Đá Vọng Phu

望夫石
石耶人耶彼何人?
獨立山頭千百春。
萬劫杳無雲雨夢,
一貞留得古今身。
淚痕不絕三秋雨,
苔篆長銘一段文。
四望連山渺無際,
獨教兒女擅彝倫。
Vọng Phu thạch
Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng,
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ,
Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
Tứ vọng liên sơn diểu vô tế,
Độc giao nhi nữ thiện di luân.
Dịch nghĩa
Đá chăng? Người chăng? Là ai đấy nhỉ?
Đứng một mình trên ngọn núi hàng ngàn năm nay.
Muôn kiếp không bao giờ có mộng mây mưa,
Tấm thân giữ được trinh tiết mãi mãi.
Mưa thu như dòng lệ chảy không ngớt,
Lớp rêu như ghi lại một bài văn ca tụng nàng.
Nhìn bốn phía núi non từng từng lớp lớp,
Luân thường chỉ dành riêng cho bạn gái chăng?

Xuân tiêu lữ thứ 春宵旅次 • Đêm xuân lữ thứ

春宵旅次
蕭蕭蓬鬢老風塵,
暗裡偏驚物候新。
池草未闌千里夢,
庭梅已換一年春。
英雄心事荒馳騁,
名利營場累笑顰。
人自蕭條春自好,
團城城下一沾巾。
Xuân tiêu lữ thứ
Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần,
Ám lý thiên kinh vật hậu tân.
Trì thảo vị lan thiên lý mộng,
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân.
Anh hùng tâm sự hoang trì sính,
Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần.
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo,
Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân.
Dịch nghĩa
Mái tóc bạc phơ, cứ phải phong trần mãi,
Thấy thời tiết, cảnh vật đổi thay, lòng riêng những kinh sợ.
Ngoài nghìn dặm chưa tan giấc mộng “cỏ bờ ao”,
Trước sân, cây mai lại qua một mùa xuân nữa.
Tâm sự anh hùng đã nguội lạnh, không còn nghĩ đến chuyện ruổi rong,
Đường danh lợi làm luỵ đến sự khóc cười.
Người thì tiều tuỵ, nhưng xuân vẫn chứ đẹp,
Đứng dưới Đoàn Thành, nước mắt đẫm khăn.

Điệp tử thư trung 蝶死書中 • Bướm chết trong sách

蝶死書中
芸窗曾幾染書香,
謝卻風流未是狂。
薄命有緣留簡籍,
殘魂無淚哭文章。
蠹魚易醒繁華夢,
螢火難灰錦繡腸。
聞道也應甘一死,
淫書猶勝為花忙。
Điệp tử thư trung
Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương,
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng.
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng,
Huỳnh hoả nan hôi cẩm tú trường.
Văn đạo dã ưng cam nhất tử,
Dâm thư do thắng vị hoa mang.
Dịch nghĩa
Bao nhiêu lâu nay nhiễm hương thơm của sách trong thư phòng,
Từ bỏ cảnh phong lưu không thể cho là dại.
Mệnh tuy bạc, nhưng cũng phải có duyên mới lưu lại với sách,
Hồn tàn không có nước mắt mà khóc văn chương.
Con mọt sách dễ làm tỉnh mộng phồn hoa,
Lửa đom đóm khó đốt cháy tấm lòng gấm vóc.
Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam,
Ham mê sách còn hơn đắm đuối vì hoa.

Khổng tước vũ 孔雀舞 • Chim công múa

孔雀舞
孔雀腑懷毒,
誤服不可醫。
外露文章體,
中藏殺罰機。
人誇容指善,
我惜羽毛奇。
鶴海亦會舞,
不與世人知。
Khổng tước vũ
Khổng tước phủ hoài độc,
Ngộ phục bất khả y.
Ngoại lộ văn chương thể,
Trung tàng sát phạt ky.
Nhân khoa dung chỉ thiện,
Ngã tích vũ mao kỳ.
Hạc hải diệc hội vũ,
Bất dữ thế nhân tri.
Dịch nghĩa
Tạng phủ chim công có chất độc,
Lỡ ăn nhầm, không có thuốc chữa.
Bề ngoài có vẻ tốt đẹp,
Nhưng bên trong giấu chất giết người.
Người ta khen bộ nó đẹp,
Ta thì tiếc cho bộ lông kỳ lạ của nó.
Con hạc biển cũng biết múa,
Nhưng chẳng để ai thấy.

Độc Tiểu Thanh ký 讀小青記 • Đọc chuyện nàng Tiểu Thanh

讀小青記
西湖花苑盡成墟,
獨吊窗前一紙書。
脂粉有神憐死後,
文章無命累焚餘。
古今恨事天難問,
風韻奇冤我自居。
不知三百餘年後,
天下何人泣素如。
Độc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Dịch nghĩa
Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,
Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi.
Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết,
Văn chương không có mệnh mà cũng bị liên luỵ, đốt đi còn sót lại một vài bài.
Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời.
Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng.
Chẳng biết ba trăm năm sau nữa,
Thiên hạ có ai khóc Tố Như ta?

Thanh Hiên thi tập là một trong những tập thơ chữ Hán nổi tiếng của Nguyễn Du, tập thơ được chia thành 3 giai đoạn khác nhau, với mỗi giai đoạn là một phong cách thơ đặc sắc. Tập thơ với nội dung chính là   phản ánhlên tình cảnh, tâm sự của mình trong hoàn cảnh lênh đênh, lưu lạc hoặc trong thời gian ẩn náu ở quê nhà, lúc gia đình đã sa sút theo đà sụp đổ của chế độ Lê – Trịnh.