Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 4

Thơ Nam Trân được rất nhiều độc giả yêu thích. Về âm điệu, thơ Nam Trân thực dồi dào. Thi nhân không theo điệu nào nhất định. Trước mỗi cảnh, mỗi tình, người lại cố tạo ra một điệu thơ thích hợp. Câu thơ luôn luôn biến hoá số chữ thay đổi từ một đến mười. Ông luôn luôn tìm kiếm, vì người nghĩ rằng chỉ có người mới chịu nằm hoài trong một khuôn khổ. Hôm nay, chúng tôi sẽ dành tặng các bạn chùm thơ dịch đặc sắc của ông. Hãy đón xem nhé!

Kim Minh trì 金明池 • Ao Kim Minh

玩月橋邊對夕陽,
拂雲兩岸柳絲長。
高飛翡翠齊仙仗,
獨立蜻蜓穩鳳床。
入座水光茵簞冷,
薰人花氣笑談香。
倚欄眼底無纖翳,
碧浸銀蟾一夜涼。

Kim Minh trì

Ngoạn Nguyệt kiều biên đối tịch dương,
Phất vân lưỡng ngạn liễu ti trường.
Cao phi phí thuý tề tiên trượng,
Độc lập thanh đình ổn phượng sàng.
Nhập toạ thuỷ quang nhân đạm lãnh,
Huân nhân hoa khí tiếu đàm hương.
Ỷ lan nhãn để vô tiêm ế,
Bích tẩm ngâu thiềm nhất dạ lương.

Dịch nghĩa

Bên cầu Ngoạn Nguyệt đối bóng chiều tà,
Hai bờ tơ liễu dài phơ phất từng mây.
Chim trả bay sánh với nghi trượng thần tiên,
Con chuồn đứng lẻ, vững vàng như chiếc gường phượng hoàng.
Ánh nước soi chỗ ngồi, chăn chiếu thêm lạnh lẽo,
Mùi hoa xông lên người, tiếng cười nói cũng thơm.
Tựa lan can, mắt không bị chút gì che lấp,
Trời xanh đẫm trăng bạc mát mẻ suốt đêm.

Dịch

Bên cầu Ngoạn Nguyệt ngắm chiều tây,
Tơ liễu hai bờ phơ phất mây.
Chim trả bay cao: nghi trượng đó,
Con chuồn đứng lẻ: phượng sàng đây.
Chiếu chăn nước rọi nghe hơi lạnh,
Cười nói hoa xông thoảng nhị bay.
Đứng tựa lan can tầm mắt rộng,
Đêm thanh trăng bạc, mát dường này.

Nghệ An hành điện 乂安行殿

生民一視我胞同,
西海何心使困窮。
蕭相不知高祖意,
未央虛費潤青紅。

Nghệ An hành điện

Sinh dân nhất thị ngã bào đồng,
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng.
Tiêu tướng bất tri Cao Tổ ý,
Vị Ương hư phí nhuận thanh hồng.

Dịch nghĩa

Hết thảy sinh dân đều là người ruột thịt của ta,
Nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng.
Tướng quốc họ Tiêu không hiểu ý của Cao Tổ,
Tô điểm đỏ xanh cung Vị Ương chỉ là tiêu phí vô ích.

Dịch

Vua tôi máu mủ giống nòi chung,
Bốn bể sao đang để khốn cùng.
Tiêu tướng vụng suy lòng Hán Tổ,
Phi tiền tô điểm Vị Ương cung

Tạ bắc sứ Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 1

馬頭萬里涉溪山,
玉節搖搖瘴霧寒。
忽睹十行開鳳尾,
宛如咫尺對龍顏。
漢元初紀時方泰,
舜歷新頒德又寬。
更得二公誠款款,
卻添春色上眉間。

Tạ bắc sứ Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 1

Mã đầu vạn lý thiệp khê san,
Ngọc tiết dao dao chướng vụ hàn.
Hốt đổ thập hàng khai phượng vĩ,
Uyển như chỉ xích đối long nhan.
Hán nguyên sơ kỷ trời phương thái,
Thuấn lịch tân ban đức hựu khoan.
Cánh đắc nhị công thành khoản khoản,
Khước thiêm xuân sắc thướng mi gian.

Dịch nghĩa

Ruổi ngựa vượt qua muôn dặm núi khe,
Cờ ngọc tiết rung rinh sương khói lạnh lùng.
Mở cờ chiếu đuôi phượng ra chợt thấy mười hàng chữ,
Hệt như được đứng trước mặt rồng chỉ cách gang tấc.
Triều Hán lúc mở đầu là thời yên vui,
Lịch vua Thuấn mới ban, đức độ khoan hậu.
Lại được hai ông có lòng thành,
Càng thêm vẻ xuân hiện trên nét mày.

Dịch

Khe núi muôn trùng ngựa ruổi rong,
Tay vung cờ tiết, khói mù xông.
Mười hàng bỗng chốc bày đuôi phượng,
Gang tấc in như thấy mặt rồng.
Đầu buổi Hán nguyên thời thịnh đạt,
Mới ban Thuấn lịch đức khoan hồng.
Hai ngài lại sẵn tình chân thật,
Tươi tắn ngươi tôi, hớn hở lòng.

Tặng Trần Bang Cẩn hoạ tượng tính thi

形容骨格耐冬寒,
相貌亭亭亦可觀。
風流一段渾描盡,
心裏難描耿耿丹。

Tặng Trần Bang Cẩn hoạ tượng tính thi

Hình dung cốt cách nại đông hàn,
Tướng mạo đình đình diệc khả quan.
Phong lưu nhất đoạn hồn miêu tận,
Tâm lý nan miêu cảnh cảnh đan.

Dịch nghĩa

Hình dung cốt cách chịu đựng được giá lạnh mùa đông,
Tướng mạo đường đường cũng đáng xem.
Mọi vẻ phong lưu đều vẽ được hết,
Chỉ khó vẽ tấm lòng son chói sáng mà thôi.

Dịch

Thân hình rắn rỏi quen sương tuyết,
Tướng mạo khôi ngô ngó cũng giòn.
Mọi vẻ phong lưu đều tả hết,
Mà chưa tả được tấm lòng son.

Xuân nhật nhàn toạ 春日閒坐

花柳綠成陰,
簾鉤院宇深。
無情天外絮,
不語樹頭禽。
簡古三皇政,
希夷五帝心。
世間閒半日,
攘得一千金。

Xuân nhật nhàn toạ

Hoa liễu lục thành âm,
Liêm câu viện vũ thâm.
Vô tình thiên ngoại nhứ,
Bất ngữ thụ đầu cầm.
Giản cổ Tam hoàng chính,
Hi di Ngũ đế tâm.
Thế gian nhàn bán nhật,
Nhương đắc nhất thiên câm (kim).

Dịch nghĩa

Liễu ra hoa tươi tốt đã thành bóng râm,
Rèm móc lên rồi mà nhà vẫn sâu kín.
Tơ liễu hững hờ bay ngoài trời,
Chim chóc im lặng đậu trên ngọn cây.
Giản dị thuần phác là chính sự của Tam hoàng,
Nhìn không thấy, nghe không được là lòng của Ngũ đế.
Ở trần gian mà nhàn hạ được nửa ngày,
Thì cũng quý như đoạt được ngàn vàng.

Dịch

Liễu hoa cành lá rườm rà,
Cuối rèm lớp lớp cửa nhà càng sâu.
Tơ trời lững thững về đâu?
Trên cây chim đậu rầu rầu biếng kêu.
Tam hoàng giản dị đáng yêu,
Hư không Ngũ đế dễ xiêu lòng này.
Ở đời nhàn rỗi nửa ngày,
Cũng bằng nắm chắc trong tay ngàn vàng.

Ký phu 寄夫 • Gửi chồng

夫戍邊關妾在吳,
西風吹妾妾憂夫。
一行書信千行淚,
寒到君邊衣到無。

Ký phu

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô,
Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu.
Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ:
“Hàn đáo quân biên, y đáo vô?”

Dịch nghĩa

Chồng đi thú ở nơi biên ải, thiếp ở đất Ngô
Gió may thổi thiếp (lạnh), thiếp lo cho chồng
Mỗi một dòng thư là ngìn dòng nước mắt
“Rét đến bên chàng, áo có đến không?”

Dịch

Chồng trấn tây cương, thiếp ở đông,
Gió tây lạnh thiếp, thiếp thương chồng.
Một dòng thư gửi, trăm dòng lệ:
“Rét đến bên chàng, áo đến không ?”

Cung viên xuân nhật ức cựu 宮園春日憶舊

宮門半掩徑生苔,
白晝沈沈少往來。
萬紫千紅空爛熳,
春花如許為誰開。

Cung viên xuân nhật ức cựu

Cung môn bán yểm kính sinh đài,
Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai.
Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
Xuân hoa như hử vị thuỳ khai?

Dịch nghĩa

Cửa cung khép hờ, lối đi rêu mọc,
Giữa ban ngày mà sâu lặng, ít người qua lại,
Muôn tía nghìn hồng rực rỡ suông mà thôi,
Hoa xuân đẹp như kia vì ai mà nở?

Dịch

Cửa cung nửa khép, đường rêu phủ,
Ngày lặng đìu hiu vắng bóng người.
Muôn tía nghìn hồng đua rực rỡ,
Hoa xuân dường ấy nở vì ai ?

Đăng U Châu đài ca 登幽州臺哥

前不見古人,
後不見來賈。
念天地之悠悠,
獨愴然而涕下。

Đăng U Châu đài ca

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế há.

Dịch nghĩa

Phía trước không thấy người xưa
Phía sau không thấy ai đến
Ta nghĩ rằng trời đất rộng lớn mênh mông
Riêng ta đau lòng rơi lệ.

Dịch

Ngưòi trước chẳng thấy ai
Người sau thì chưa thấy
Gẫm trời đất thật vô cùng
Riêng lòng đau mà lệ chảy.

Xuân nhật ngẫu thành 春日偶成

雲淡風輕近午天,
傍花隨柳過前川。
時人不識余心樂,
將謂偷閒學少年!

Xuân nhật ngẫu thành

Vân đạm phong khinh cận ngọ thiên,
Bàng hoa tuỳ liễu quá tiền xuyên.
Thời nhân bất thức dư tâm lạc,
Tương vị thâu nhàn học thiếu niên.

Dịch nghĩa

Mây mỏng, gió nhẹ, trời gần trưa,
Bên hoa đi theo hàng liễu đến dòng sông trước mặt.
Người đời không biết lòng ta đang vui,
Lại bảo ta nhàn hạ như trẻ con.

Dịch

Gần trưa gió nhẹ mây thanh
Vin hoa tựa liễu một mình ra sông
Lòng vui người chẳng hiểu lòng
Rằng theo bọn trẻ chạy rong chơi đùa

Xương Môn tức sự 閶門即事

耕夫召募逐樓船,
春草青青萬頃田。
試上吳門窺郡郭,
清明幾處有新煙。

Xương Môn tức sự

Canh phu triệu mộ trục lâu thuyền,
Xuân thảo thanh thanh vạn khoảnh điền.
Thí thướng Ngô Môn khuy quận quách,
Thanh minh kỷ xứ hữu tân yên.

Dịch nghĩa

Hàng vạn nông dân bị bắt đi lính,
Hàng vạn cánh đồng ngập cỏ xanh khi xuân đến.
Thử trèo lên cửa thành nhìn ra ngoại ô,
Thanh minh này được mấy nơi có khói mới.

Dịch

Nhà nông bị bắt xuống thuyền binh,
Ruộng đất bao la cỏ mượt xanh.
Lên gác Ngô môn nhìn khắp quận,
Lơ thơ khói mới tiết thanh minh.

Ngoạn hoa dữ Vệ Tương đồng tuý

衰鬢千莖雪,
他鄉一樹花。
今朝與君醉,
忘卻在長沙。

Ngoạn hoa dữ Vệ Tương đồng tuý

Suy mấn thiên hành tuyết,
Tha hương nhất thụ hoa.
Kim triêu dữ quân tuý.
Vong khước tại Trường Sa.

Dịch nghĩa

Tóc cằn cỗi đã thêm cà ngàn sợi bạc
Ở xứ người chỉ có độc một cây hoa
Hôm nay cùng ông, ta uống say
Để quên đi đang ở Trường Sa

Dịch

Tóc bạc nghìn sợi tuyết,
Quê người một khóm hoa.
Sáng nay say với bác,
Quên bẵng tại Trường Sa.

Nam hành biệt đệ 南行別弟

澹澹長江水﹐
悠悠遠客情﹐
落花相與恨﹐
到地一無聲。

Nam hành biệt đệ

Đạm đạm Trường Giang thuỷ,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.

Dịch nghĩa

Nước sông dài lờ lờ trôi,
Khách đi xa mối tình man mác.
Hoa rụng, dường cùng nhau chia hận,
Rơi tới mặt đất, không một tiếng gì.

Dịch

Sông dài nước chảy lênh đênh,
Dặm nghìn đất khách mối tình mênh mông.
Hoa kia chia mối hận lòng,
Lúc rơi tới đất tuyệt không tiếng gì.

Trừ Châu tây giản 滁州西澗

獨憐幽草澗邊生,
上有黃鸝深樹鳴。
春潮帶雨晚來急,
野渡無人舟自橫。

Trừ Châu tây giản

Độc liên u thảo giản biên sinh,
Thượng hữu hoàng ly thâm thụ minh.
Xuân triều đới vũ vãn lai cấp,
Dã độ vô nhân chu tự hoành.

Dịch nghĩa

Riêng thương cỏ âm thầm mọc bên lạch,
Trên có cái oanh vàng hót trong cây um tùm.
Thuỷ triều mùa xuân đem theo mưa, trời sập tối,
Đò đồng quạnh vắng, con thuyền tự quay ngang.

Dịch

Xót thương bến nước cỏ xanh vàng,
Cây rậm cành cao, oanh hót vang.
Mưa dịp triều xuân, trời sập tối,
Chiếc đò quạnh vắng tự quay ngang.

Bạc thuyền Qua Châu 泊船瓜洲

京口瓜洲一水間,
鍾山只隔數重山。
春風又綠江南岸,
明月何時照我還。

Bạc thuyền Qua Châu

Kinh Khẩu Qua Châu nhất thuỷ gian,
Chung sơn chỉ cách sổ trùng san.
Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn,
Minh nguyệt hà thì chiếu ngã hoàn?

Dịch nghĩa

Kinh Khẩu bãi Qua Châu cách nhau mỗi con sông,
Về Chung San chỉ sau mấy quả núi.
Gió xuân lại thổi xanh bờ Giang Nam,
Khi nào trăng lên soi cho ta về.

Dịch

Qua Châu, Kinh khẩu cùng sông
Cách vài dãy núi, núi Chung cũng gần
Bờ Nam cỏ biếc hơi xuân
Đường về còn đợi đến tuần trăng nao

Đằng Vương các 滕王閣

滕王高閣臨江渚,
佩玉鳴鸞罷歌舞。
晝棟朝飛南浦雲,
珠簾暮捲西山雨。
閒雲潭影日悠悠,
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在,
檻外長江空自流。

Đằng Vương các

Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Hoạ đống triêu phi Nam phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại,
Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu.

Dịch nghĩa

Gác Đằng Vương cao ngất dựa bên bãi sông,
Đeo ngọc reo chuông thôi múa hát.
Cột vẽ mây bến Nam bay lúc sáng sớm,
Rèm châu cuốn buổi chiều thấy mưa núi Tây.
Mây lững lờ ngày ngày vẫn in bóng trên đầm,
Vật đổi sao dời trải đã bao thu.
Con vua ở trong gác nay ở chốn nào?
Ngoài hiên sông Trường Giang cứ chảy mãi.

Dịch

Gác Đằng cao ngất bãi sông thu
Ngọc muá vàng reo nay thấy đâu ?
Nam phố mây mai quanh nóc vẽ
Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi
Mấy phen vật đổi với sao dời
Đằng vương thuở trước giờ đâu tá ?
Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài.

Xuất tái – Lương Châu từ 出塞-涼州詞

黃河遠上白雲間,
一片孤城萬仞山。
羌笛何須怨楊柳,
春風不度玉門關。

Xuất tái – Lương Châu từ

Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu oán “Dương liễu”,
Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan.

Dịch nghĩa

Xa xa, sông Hoàng Hà leo lên tận khoảnh mây trắng
Một vuông thành cô quạnh, muôn trượng núi cao
Tiếng sáo người Khương cần chi thổi bài “Chiết liễu”
Vì gió xuân nào có qua cửa ải Ngọc Môn đâu!

Dịch

Hoàng Hà, mây trắng liền nhau
Thành côi một mảnh, núi cao tiếp trời
Thổi chi “Chiết liễu” sáo ơi
Gió xuân đâu lọt ra ngoài Ngọc Môn.

Tạp thi kỳ 1 雜詩其一

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp thi kỳ 1

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị?

Dịch nghĩa

Anh từ quê cũ đến đây,
Chắc biết tình hình quê nhà.
Ngày ấy anh đến, che chắn trước cửa sổ,
Cây mai mùa đông đã nở hoa chưa?

Dịch

Bác ở quê nhà ra,
Việc quê nhà hẳn rõ.
Ngày đi, trước song the,
Mai nở hay chưa nở?

Vị Thành khúc – Tống Nguyên nhị sứ An Tây

渭城朝雨浥輕塵,
客舍青青柳色新。
勸君更盡一杯酒,
西出陽關無故人。

Vị Thành khúc – Tống Nguyên nhị sứ An Tây

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

Dịch nghĩa

Tại Vị Thành, mưa ban sáng làm ướt đám bụi mỏng
Quán khách có liễu màu sắc mới mẻ xanh tươi
Xin anh hãy uống cạn chén rượu
Ra khỏi Dương Quan về phía tây e không còn có bạn nữa

Dịch

Mưa mai thấm bụi Vị Thành,
Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời.
Khuyên anh hãy cạn chén mời,
Dương quan ra khỏi ai người cố tri.

Thôn hành 村行 • Đi trong xóm

馬穿山徑菊初黃,
信馬悠悠野興長。
萬壑有聲含晚籟,
數峰無語立斜陽。
棠梨葉落胭脂色,
蕎麥花開白雪香。
何事吟余忽惆悵,
村橋原樹似吾鄉。

Thôn hành

Mã xuyên sơn kính cúc sơ hoàng,
Tín mã du du dã hứng trường.
Vạn hác hữu thanh hàm vãn lại,
Sổ phong vô ngữ lập tà dương.
Đường lê diệp lạc yên chi sắc,
Kiều mạch hoa khai bạch tuyết hương.
Hà sự ngâm dư hốt trù trướng,
Thôn kiều nguyên thụ tự ngô hương.

Dịch

Ngựa xuyên đường núi cúc khoe vàng
Buông lỏng giây cương mến cảnh làng
Hang hốc vi vu như sáo tối
Núi non lặng lẽ dưới tà dương
Cành đường rụng lá son tô thắm
Ruộng lúa đâm bong tuyết toả hương
Ngâm hết vì đâu lòng thổn thức?
Cây gò, cầu xóm giống quê hương.

Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1

寒雨連江夜入吳,
平明送客楚山孤。
洛陽親友如相問,
一片冰心在玉壺。

Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Dịch nghĩa

Mưa lạnh rơi khắp mặt sông trong đêm vào đất Ngô,
Khi trời sáng tiễn khách chỉ có ngọn núi đất Sở trơ trọi.
Nếu như bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm,
(Thì xin đáp tôi vẫn giữ) một mảnh lòng trong sáng như băng trong bình ngọc.

Dịch

Mưa lạnh tràn sông đêm đến Ngô
Sáng ra tiễn khách núi buồn trơ
Lạc Dương nếu có người thân hỏi
Một mảnh lòng băng tại ngọc hồ.

Những tác phẩm dịch của Nam Trân luôn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. Ngòi bút tinh tế cùng phong cách thơ độc đáo những bài thơ của ông như đang gõ cửa tâm hồn bạn đọc. Thi phẩm của ông giàu giá trị và được ca ngợi mạnh mẽ đến hiện nay. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm : Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 3