Nhà thơ Bạch Cư Dị cùng kho tàng thơ đặc sắc phần 9

Nếu bạn là một người yêu thích thơ ca và luôn sưu tầm những thi phẩm đắt giá thì thơ Bạch Cư Dị sẽ là một sự lựa chọn phù hợp dành cho bạn. Ông là một nhà thơ tài hoa và kiệt xuất, sở hữu một chùm thơ hay và nổi tiếng. Thơ ông thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Ông hoà đồng cùng dân chúng, không coi việc làm quan của mình là gì, mà thấy mình cũng bị cuộc đời làm cho bảy nổi ba chìm. Đọc thơ ta cảm nhận được sự đồng cảm với những thân gái chịu bao tập tục hủ bại và cảnh nghèo túng mặc dù sắc đẹp thì chẳng thua ai. Hãy cùng theo dõi bài viết này của chúng tôi nhé các bạn!

Phủ tây trì 府西池 • Ao phía tây phủ

柳無氣枝力先動,
池有波紋冰盡開。
今日不知誰計會,
春風春水一時來。

Phủ tây trì

Liễu vô khí chi lực tiên động,
Trì hữu ba văn băng tận khai.
Kim nhật bất tri thuỳ kế hội,
Xuân phong xuân thuỷ nhất thì lai.

Dịch nghĩa

Cây liễu không có sức lực gì, mà cành lay động trước khi gió,
Mặt ao gợn sóng lăn tăn, băng đã tan hết.
Không biết hôm nay sẽ gặp những ai?
Mà gió xuân và nước xuân đã đến cùng một lúc rồi.

Quan du ngư 觀游魚 • Xem cá bơi

繞池閑步看魚游,
正值兒童弄釣舟。
一種愛魚心各異,
我來放食爾垂鉤。

Quan du ngư

Nhiễu trì nhàn bộ khán ngư du,
Chính trị nhi đồng lộng điếu chu.
Nhất chủng ái ngư tâm các dị,
Ngã lai phóng thực nhĩ thuỳ câu.

Dịch nghĩa

An nhàn tản bộ quanh ao ngắm cá bơi,
Cùng lúc thấy con trẻ đang chơi câu cá trên thuyền nhỏ.
Cùng sở thích là yêu cá, mà thể hiện có khác nhau,
Ta tới cho cá ăn, còn tụi bây tới buông câu bắt cá.

Quan ngải mạch 觀刈麥 • Xem gặt lúa

田家少閒月,
五月人倍忙。
夜來南風起,
小麥覆隴黃。
婦姑荷簞食,
童稚攜壺槳。
相隨餉田去,
丁壯在南岡。
足蒸暑土氣,
背灼炎天光。
力盡不知熱,
但惜夏日長。
復有貧婦人,
抱子在其旁。
右手秉遺穗,
左臂懸敝筐。
聽其相顧言,
聞者為悲傷。
家田輸稅盡,
拾此充饑腸。
今我何功德?
曾不事農桑。
吏祿三百石,
歲晏有餘糧。
念此私自愧,
盡日不能忘,

Quan ngải mạch

Điền gia thiểu nhàn nguyệt,
Ngũ nguyệt nhân bội mang.
Dạ lai nam phong khởi,
Tiểu mạch phú lũng hoàng.
Phu cô hạ đan tự,
Đồng trĩ huề hổ tương.
Tương tuỳ hướng điển khứ
Đinh tráng tại nam cương
Túc chưng thử thổ khí,
Bối chước viêm thiên quang.
Lực tận bất tri nhiệt,
Đãn tích hạ nhật trường.
Phục hữu bần phụ nhân,
Bão tử tại kì bàng.
Hữu thủ bỉnh di tuệ,
Tả tí huyền tệ khuông.
Thính kì tương cố ngôn,
Văn giả vị bi thương.
Gia điền thâu thuế tận,
Thập thử sung cơ trường.
Kim ngã hà công đức,
Tằng bất sự nông tang?
Lại lộc tam bách thạch,
Tuế án hữu dư lương.
Niệm thử tư tự quí,
Tận nhật bất năng vương.

Dịch nghĩa

Nhà nông ít tháng ở không,
Tháng năm ai cũng bận thêm.
Đêm tới gió nam nổi lên,
Lúa chín phủ vàng trên gò.
Các bà các cô mang đồ ăn trong giỏ lá sen,
Trẻ nhỏ tay mang hũ nước.
Theo nhau đi về hướng ruộng cho thợ ăn uống,
Trai tráng [đang làm] ở sườn núi phía nam.
Nướng chân trong đất nóng,
Đốt lưng dưới ánh nắng gắt.
Làm hết sức không biết nóng,
Chỉ tiếc ngày mùa hạ dài quá.
Lại có người đàn bà nghèo,
Ôm con trong lòng dứng gần bên.
Tay phải cầm lúa thừa mót được,
Cánh tay trái đeo một cái sọt vuông đã cũ.
Nghe lời bà nói góp,
Người nghe ai cũng mủi lòng thương hại:
“Nhà và ruộng đã bán để nộp thuế,
Mót những lúa này để cho vào bụng cho đỡ đói”.
Nay ta có công đức gì,
Khi chưa từng làm ruộng trồng dâu?
Lộc quan [huyện uý] hưởng ba trăm thạch,
Một năm ăn còn dư gạo.
Nghĩ tới đó tự thẹn cho mình,
Đến hết ngày cũng chưa thể quên.

Quan ngưu 官牛 • Trâu công

官牛官牛駕官車,
滻水岸邊般載沙。
一石沙,
幾斤重?
朝載暮載將何用?
載向五門官道西,
綠槐陰下鋪沙堤。
昨來新拜右丞相,
恐怕泥塗汙馬蹄。
右丞相,
馬蹄踏沙雖凈潔,
牛領牽車欲流血。
右丞相,
但能濟人治國調陰陽,
官牛領穿亦無妨。

Quan ngưu

Quan ngưu quan ngưu giá quan xa,
Ngạn thuỷ ngạn biên bàn tải sa.
Nhất thạch sa,
Kỷ cân trọng?
Triêu tải mộ tải tương hà dụng?
Tải hướng ngũ môn quan đạo tây,
Lục hoè âm hạ phô sa đê.
Tạc lai tân bái hữu thừa tướng,
Khủng phạ nê đồ ô mã đề.
Hữu thừa tướng,
Mã đề đạp sa tuy tịnh khiết,
Ngưu lĩnh khiên xa dục lưu huyết.
Hữu thừa tướng,
Đãn năng tế nhân trị quốc điều âm dương,
Quan ngưu lĩnh xuyên diệc vô phương.

Sinh ly biệt 生離別 • Biệt ly trong lúc sống

食檗不易食梅難
檗能苦兮梅能酸
未如生別之為難
苦在心兮酸在肝
晨雞再鳴殘月沒
征馬連嘶行人出
回看骨肉哭一聲
梅酸檗苦甘如蜜
黃河水白黃雲秋
行人河邊相對愁
天寒野曠何處宿
棠梨葉戰風颼颼
生離別生離別
憂從中來無斷絕
憂極心勞血氣衰
未年三十生白髮

Sinh ly biệt

Thực bá bất dị thực mai nan
Bá năng khổ hề mai năng toan
Vị như sinh biệt chi vi nan
Khổ tại tâm hề toan tại can!
Thần kê tái minh tàn nguyệt một
Chinh mã liên tê hành nhân xuất
Hồi khan cốt nhục khốc nhất thanh
Mai toan bá khổ cam như mật
Hoàng hà thuỷ bạch hoàng vân thu
Hành nhân hà biên tương đối sầu
Thiên hàn dã khoáng hà xứ túc
Đường lê diệp chiến phong sưu sưu
Sinh ly biệt! Sinh ly biệt!
Ưu tùng trung lai vô đoạn tuyệt
Ưu cực tâm lao huyết khí suy
Vị niên tam thập sinh bạch phát.

Dịch nghĩa

Ăn quả bá không dễ, ăn mơ khó
Sung thì chát mà mơ thì chua
Nhưng chưa khó bằng cảnh sinh ly
Chát ở trong tim, chua ở trong gan
Gà gáy sớm lần thứ hai, trăng tà đang lặn
Ngựa trẩy hí ran, người ra đi lên đường.
Ngoảnh lại, nghe tiếng khóc của người ruột thịt,
Thì vị chát của sung, chua của mơ, so còn ngọt như mật
Nước sông Hoàng hà trắng phau, mây vàng nhuốm vẻ thu
Khách ra đi ở bên sông nhìn nhau buồn bã
Trời rét đồng không, nơi nao yên nghỉ
Lá đường lê chạm nhau trước gió rào rào
Cảnh sinh ly! Cảnh sinh ly!
Nỗi lo âu tự đáy lòng không bao giờ dứt
Lo âu đến tột cùng, lòng mệt mỏi, khí huyết hao mòn
Tuổi chưa ba mươi, tóc đã nhuốm bạc.

Sơn giá cô 山鷓鴣 • Chim đa đa núi

山鷓鴣,
朝朝暮暮啼復啼,
啼時露白風凄凄。
黃茅岡頭秋日晚,
苦竹岭下寒月低。
畬田有粟何不啄,
石楠有枝何不栖。
迢迢不緩復不急,
樓上舟中聲暗入。
夢鄉遷客展轉臥,
抱儿寡婦彷徨立。
山鷓鴣,
爾本此鄉鳥,
生不辭巢不別群,
何苦聲聲啼到曉。
啼到曉,
唯能愁北人,
南人慣聞如不聞。

Sơn giá cô

Sơn giá cô!
Triêu triêu mộ mộ, đề phục đề.
Đề thời lộ bạch phong thê thê.
Hoàng mao cương đầu thu nhật vãn,
Khổ trúc lĩnh hạ hàn nguyệt đê.
Dư điền hữu túc hà bất trác?
Thạch nam hữu chi hà bất thê?
Thiều thiều bất hoãn phục bất cấp,
Lâu thượng chu trung thanh ảm nhập.
Mộng hương thiên khách triển chuyển ngoạ.
Bão nhi quả phụ bàng hoàng lập.
Sơn giá cô!
Nhĩ bản thử hương điểu,
Sinh bất từ sào, bất biệt quần.
Hà khổ thanh thanh đề đáo hiểu?
Đề đáo hiểu,
Duy năng sầu bắc nhân,
Nam nhân quán văn như bất văn.

Dịch nghĩa

Hỡi chim giá cô núi!
Sáng lại sáng; chiều lại chiều, sao mi cứ kêu hoài!
Kêu vào những lúc sương trắng trời, gió thổi lạnh lẽo.
Kêu trong những cảnh cỏ úa vàng trên sườn núi, nắng thu về chiều,
Tre gầy dưới núi, trăng lạnh hạ thấp.
Ruộng tốt có lúa sao không mổ ăn?
Cây chò núi có cành sao không đậu?
Nghe xa xa không thong thả cũng chẳng gấp rút,
Âm thanh thầm vọng lên gác, vào thuyền.
Làm khách đi đày đang nằm trằn trọc nhớ nhà,
Goá phụ đang ôm con đứng ngơ ngẩn.
Hỡi chim giá cô núi!
Mi là chim vốn quê ở đất này,
Sống không dời tổ, cũng chẳng xa bầy,
Cớ sao mi cứ kêu những tiếng ảo não thâu đêm tới sáng?
Kêu tới sáng,
Chỉ làm sầu người bắc bị đày nam,
Chứ người nam đã nghe quen nên như chẳng nghe gì.

Sơn hạ túc 山下宿 

獨到山下宿,
靜向月中行。
何處水邊碓,
夜舂雲母聲。

Sơn hạ túc

Độc đáo sơn hạ túc.
Tĩnh hướng nguyệt trung hành.
Hà xứ thuỷ biên đối,
Dạ thung vân mẫu thanh.

Dịch nghĩa

Một mình tới ngủ đỗ dưới chân núi,
Lặng lẽ đi dưới ánh trăng.
Có cái cối giã gạo đặt ở đâu bên bờ suối,
Ban đêm nghe thấy tiếng chày giã vào đá vân mẫu.

Tam niên biệt 三年别 • Ba năm xa cách

悠悠一別已三年,
相望相思明月天。
腸斷青天望明月,
彆來三十六回圓。

Tam niên biệt

Du du nhất biệt dĩ tam niên,
Tương vọng tương tư minh nguyệt thiên.
Trường đoạn thanh thiên vọng minh nguyệt,
Biệt lai tam thập lục hồi viên.

Dịch nghĩa

Từ ngày xa cách đến nay đã ba năm dằng dặc
Trông nhau nhớ nhau dưới bầu trời trăng sáng
Đứt ruột trông vầng trăng sáng trên trời xanh
Từ xa nhau đến nay đã ba mươi sáu lần (trăng) tròn.

Tảo thu độc dạ 早秋獨夜

井梧涼葉動,
鄰杵秋聲發。
獨向檐下眠,
覺來半床月。

Tảo thu độc dạ

Tỉnh ngô lương diệp động,
Lân chử thu thanh phát.
Độc hướng thiềm hạ miên,
Giác lai bán sàng nguyệt.

Dịch nghĩa

Lá cây ngô đồng trên bờ giếng, lạnh lùng lay động
Chày bên hàng xóm, vang lên tiếng thu
Một mình ngủ dưới mái hiên
Tỉnh dậy trăng rọi sáng nửa giường

Tặng nội (II) 贈內(II)

漠漠暗苔新雨地,
微微涼露欲秋天。
莫對月明思往事,
損君顏色減君年。

Tặng nội (II)

Mạc mạc ám đài tân vũ địa,
Vi vi lương lộ dục thu thiên.
Mạc đối nguyệt minh tư vãng sự,
Tổn quân nhan sắc giảm quân niên.

Dịch nghĩa

Mưa đầu mùa làm khắp mặt đất rêu mọc lên mờ mờ,
Những hạt móc lạnh li ti báo hiệu thu về.
Đừng có nhìn trăng sáng mà nhớ về chuyện cũ,
Nó làm hại cho nhan sắc và giảm tuổi thọ của nàng.

Tặng Quan Miến Miến 贈關盼盼

鳳撥金翎砌,
檀槽後帶垂。
醉嬌無氣力,
風裊牡丹枝。

Tặng Quan Miến Miến

Phụng bát kim linh thế,
Đàn tào hậu đới thuỳ.
Tuý kiều vô khí lực,
Phong niểu mẫu đơn chi.

Tặng Tiết Đào 贈薛濤

蛾眉山勢接雲霓,
欲逐劉郎北路迷。
若似剡中容易到,
春風猶隔武陵溪。

Tặng Tiết Đào

Nga Mi sơn thế tiếp vân nghê,
Dục trục Lưu lang bắc lộ mê.
Nhược tự Diễm Trung dung dị đáo,
Xuân phong do cách Vũ Lăng khê.

Dịch nghĩa

Thế núi Nga Mi tiếp giáp với cầu vồng mây
Muốn đuổi theo Lưu lang còn mê lạc trên đường phía bắc
Nếu như đất Diễm Trung dễ đến (bởi vì Diễm Trung rất khó đến)
Nên gió mùa xuân vẫn còn xa cách suối Vũ Lăng.

Tặng Vương sơn nhân 贈王山人

聞君減寢食,
日聽神仙說。
暗待非常人,
潛求長生訣。
言長本對短,
未離生死轍。
假使得長生,
才能勝夭折。
松樹千年朽,
槿花一日歇。
畢竟共虛空,
何須誇歲月。
彭殤徒自異,
生死終無別。
不如學無生,
無生即無滅。

Tặng Vương sơn nhân

Văn quân giảm tẩm thực,
Nhật thính thần tiên thuyết.
Ám đãi phi thường nhân,
Tiềm cầu trường sinh quyết.
Ngôn trường bản đối đoản,
Vị ly sinh tử triệt.
Giả sử đắc trường sinh,
Tài năng thắng yểu chiết.
Tùng thụ thiên niên hủ,
Cẩn hoa nhất nhật yết.
Tất cánh cộng hư không,
Hà tu khoa tuế nguyệt.
Bành thương đồ tự dị,
Sinh tử chung vô biệt.
Bất như học vô sinh,
Vô sinh tức vô diệt.

Dịch nghĩa

Nghe nói ông bớt ăn ngủ,
Cả ngày nghe bàn luận về thần tiên.
Ngầm đợi trở thành người phi thường,
Thầm cầu phép bí truyền để được sống lâu.
Nói dài là đối lại với ngắn,
Chứ chưa ai ra khỏi vết xe sống chết.
Giả sử người đã sống lâu rồi,
Mới nói là hơn người chết sớm.
Chứ cây thông sống ngàn năm mới mục nát,
Còn hoa râm bụt một ngày đã tàn héo.
Rốt cuộc cả hai đều về chốn hư không,
Có ai khoe năm tháng ngắn dài làm gì đâu.
Sống già và chết non là do mình tự phân biệt khác nhau,
Chứ cuối cùng mọi vật sống rồi chết không có gì khác biệt.
Phải chi học phép vô sinh,
Vì không có sinh tất chẳng có cái để mà diệt.

Tầm Dương xuân (Nguyên Hoà thập nhị niên tác) kỳ 1: Xuân sinh

春生何處暗周遊,
海角天涯遍始休。
先遣和風報消息,
續教啼鳥說來由。
展張草色長河畔,
點綴花房小樹頭。
若到故園應覓我,
為傳淪落在江州。

Tầm Dương xuân (Nguyên Hoà thập nhị niên tác) kỳ 1: Xuân sinh

Xuân sinh hà xứ ám chu du,
Hải giác thiên nhai biến thuỷ hưu.
Tiên khiển hoà phong báo tiêu tức,
Tục giao đề điểu thuyết lai do.
Triển trương thảo sắc Trường hà bạn,
Điểm xuyết hoa phòng tiểu thụ đầu.
Nhược đáo cố viên ưng mịch ngã,
Vị truyền luân lạc tại Giang Châu.

Tầm Dương xuân (Nguyên Hoà thập nhị niên tác) kỳ 2: Xuân lai 

春來觸地故鄉情,
忽見風光憶兩京。
金穀踏花香騎入,
曲江碾草鈿車行。
誰家綠酒歡連夜,
何處紅樓睡失明。
獨有不眠不醉客,
經春冷坐古湓城。

Tầm Dương xuân (Nguyên Hoà thập nhị niên tác) kỳ 2: Xuân lai

Xuân lai xúc địa cố hương tình,
Hốt kiến phong quang ức lưỡng kinh.
Kim Cốc đạp hoa hương kỵ nhập,
Khúc Giang triển thảo điền xa hành.
Thuỳ gia lục tửu hoan liên dạ,
Hà xứ hồng lâu thuỵ thất minh.
Độc hữu bất miên bất tuý khách,
Kinh xuân lãnh toạ cổ Bồn Thành.

Tầm quách đạo sĩ bất ngộ 尋郭道士不遇 

郡中乞假來相訪,
洞裏朝元去不逢。
看院只留雙白鶴,
入門惟見一青松。
藥爐有火丹應伏,
雲碓無人水自舂。
欲問參同契中事,
更期何日得從容。

Tầm quách đạo sĩ bất ngộ

Quận trung khất giả lai tương phỏng,
Động lý triều nguyên khứ bất phùng.
Khán viện chỉ lưu song bạch hạc,
Nhập môn duy kiến nhất thanh tùng.
Dược lô hữu hoả đơn ưng phục,
Vân đối vô nhân thuỷ tự thung.
Dục vấn tham đồng khế trung sự,
Cánh kỳ hà nhật đắc tòng dung.

Tân chế bố cừu 新製布裘

桂布白似雪,
吳緜輭於雲。
布重緜且厚,
爲裘有餘溫。
朝擁坐至暮,
夜覆眠達晨。
誰知嚴冬月,
支體暖如春。
中夕忽有念,
撫裘起逡巡。
丈夫貴兼濟,
豈獨善一身。
安得萬里裘,
蓋裹周四垠。
穩暖皆如我,
天下無寒人。

Tân chế bố cừu

Quế bố bạch tự tuyết,
Ngô miên nhuyễn ư vân.
Bố trọng miên thả hậu,
Vi cừu hữu dư ôn.
Triêu ủng toạ chí mộ,
Dạ phú miên đạt thần.
Thuỳ tri nghiêm đông nguyệt,
Chi thể noãn như xuân?
Trung dạ hốt hữu niệm
Phủ cừu khởi thuân tuần.
Trượng phu quý kiêm tế
Khởi độc thiện nhất thân?
An đắc vạn lý cừu,
Cái khoả chu tứ ngân.
Ổn noãn giai như ngã,
Thiên hạ vô hàn nhân!

Dịch nghĩa

Vải xứ Quế trắng như tuyết,
Bông gòn đất Ngô mềm như mây.
Vải hai lớp nhồi bông gòn lại dầy,
Làm áo cầu quá ấm.
Sáng mặc ngồi tới chiều,
Tối đắp ngủ tới sáng.
Có ai biết trong những tháng mùa đông lạnh nhất,
Mặc áo này chân tay mình mẩy ấm như trong tiết xuân không?
Trong đêm chợt có ý nghĩ,
Tay vỗ áo mà lòng chạnh bối rối.
Kẻ trượng phu được quý trọng vì biết giúp đời,
Há hưởng yên ấm một mình được sao?
Ước sao áo này rộng dài cả vạn dặm,
Che đắp cho khắp bốn phương.
Đều được yên ấm như ta,
Dưới gầm trời này không còn người phải chịu rét.

Tân Phong chiết tý ông 新豐折臂翁

新豐老翁八十八,
頭鬢眉須皆似雪;
玄孫扶向店前行,
左臂憑肩右臂折。
問翁折臂來幾年?
兼問致折何因緣?
翁雲貫屬新豐縣,
生逢聖代無征戰;
慣聽梨園歌管聲,
不識旗槍與弓箭。
無何天寶大徵兵,
戶有三丁點一丁;
點得驅將何處去?
五月萬里雲南行。
聞道雲南有瀘水,
椒花落時瘴煙起;
大軍徒涉水如湯,
未過十人二三死。
村南村北哭聲哀,
兒別爺娘夫別妻;
皆雲前後徵蠻者,
千萬人行無一回。
是時翁年二十四,
兵部牒中有名字;
夜深不敢使人知,
偷將大石槌折臂;
張弓簸旗俱不堪,
從茲始免征雲南。
骨碎筋傷非不苦,
且圖揀退歸鄉土。
此臂折來六十年,
一肢雖廢一身全;
至今風雨陰寒夜,
直到天明痛不眠。
痛不眠,終不悔,
且喜老身今獨在;
不然當時瀘水頭,
身死魂飛骨不收;
應作雲南望鄉鬼,
萬人冢上哭呦呦。
老人言,君聽取;
君不聞開元宰相宋開府,
不賞邊功防黷武?
又不聞天寶宰相楊國忠,
欲求恩倖立邊功?
邊功未立生人怨,
請問新豐折臂翁。

Tân Phong chiết tý ông

Tân Phong lão ông bát thập bát,
Đầu mấn my tu giai tự tuyết;
Huyền tôn phù hướng điếm tiền hành,
Tả tý bằng kiên hữu tý chiết.
Vấn ông: Chiết tý lai kỷ niên?
Kiêm vấn: Trí chiết hà nhân duyên?
Ông vân: Quán thuộc Tân Phong huyện,
Sinh phùng thánh đại vô chinh chiến;
Quán thính lê viên ca quản thanh,
Bất thức kì thương dữ cung tiễn.
Vô hà thiên bảo đại trưng binh,
Hộ hữu tam đinh điểm nhất đinh;
Điểm đắc khu tướng hà xứ khứ?
Ngũ nguyệt vạn lý Vân Nam hành.
Văn đạo Vân Nam hữu Lô Thuỷ,
Tiêu hoa lạc thời chướng yên khởi;
Đại quân đồ thiệp thuỷ như thang,
Vị quá thập nhân nhị tam tử.
Thôn nam thôn bắc khốc thanh ai,
Nhi biệt gia nương phu biệt thê;
Giai vân tiền hậu chưng Man giả,
Thiên vạn nhân hành vô nhất hồi.
Thị thời ông niên nhị thập tứ,
Binh bộ điệp trung hữu danh tự;
Dạ thâm bất cảm sử nhân tri,
Thâu tướng đại thạch chuỳ chiết tý;
Trương cung bả kỳ câu bất kham,
Tòng tư thỉ miễn chinh Vân Nam.
Cốt toái cân thương phi bất khổ,
Thả đồ luyện thoái quy hương thổ.
Thử tý chiết lai lục thập niên,
Nhất chi tuy phế nhất thân toàn;
Chí kim phong vũ âm hàn dạ,
Trực đáo thiên minh thống bất miên.
Thống bất miên, chung bất hối,
Thả hỉ lão thân kim độc tại;
Bất nhiên đang thì lô thuỷ đầu,
Thân tử hồn phi cốt bất thâu;
Ứng tác Vân Nam vọng hương quỷ,
Vạn nhân trủng thượng khốc u u.
Lão nhân ngôn, quân thính thủ;
Quân bất văn Khai Nguyên tể tướng Tống khai phủ,
Bất thưởng biên công phòng độc vũ?
Hựu bất văn Thiên Bảo tể tướng Dương Quốc Trung,
Dục cầu ân hạnh lập biên công?
Biên công vị lập sinh nhân oán,
Thỉnh vấn Tân Phong chiết tý ông.

Dịch nghĩa

Cụ già đất Tân Phong tám mươi tám tuổi,
Chân mày, râu, tóc đều trắng như tuyết,
Đứa chút dắt dìu ông đến trước điếm
Tay trái ông thì bíu vai đứa chút, tay phải thì cụt mất.
Hỏi cụ: mất tay đã bao năm?
Lại hỏi: Vì cớ gì mà mất tay?
Cụ nói: Quê lão tại huyện Tân Phong,
Sống vào những năm tháng yên bình không có chiến tranh,
Thường quen nghe tiếng đàn hát ở vườn lê,
Không biết cờ xí, cung tên là gì.
Không bao lâu có cuộc trưng binh lớn thời Thiên Bảo,
Hộ có ba trai chấm lấy một,
Chấm được rồi thì lùa đi biệt xứ,
Tháng năm đi miền Vân Nam xa vạn dặm,
Nghe nói ở Vân Nam có sông Lô,
Cứ đến mùa hoa tiêu rụng là độc khí bốc lên,
Toàn quân phải lội qua sông, nước nóng như sôi,
Chưa qua sông hết mà mười người đã chết mất hai ba,
Tiếng khóc nghe thảm thiết từ thôn bắc chí nam,
Con giã biệt cha, vợ giã biệt chồng,
Người rằng trước sau gì những người lính chinh Man,
Nghìn vạn người ra đi sẻ không một ai trở về,
Ngày đó lão hai mươi bốn tuổi,
Trong tờ công văn binh bộ có tên,
Đêm khuya không dám cho ai biết,
Lén lấy hòn đá to đập gãy cánh tay.
Việc giương cung, phất cờ không kham nổi nữa,
Từ đó không còn bị đưa đi đánh Vân Nam.
Gãy xương đứt gân không phải là không đau,
Chỉ mong được loại về chốn quê hương.
Mất tay đã sáu mươi năm rồi,
Tuy một tay bị đoạn nhưng thân vẫn được vẹn nguyên,
Đến những đêm mưa dầm gió lạnh,
Đau nhức suốt đêm không sao ngủ được.
Đau không ngủ được nhưng rốt cuộc vẫn không hối hận,
Mừng cho cái thân già vẫn còn sống sót đến hôm nay.
Nếu không phải như thế thì trên đầu nguồn sông Lô ngày ấy,
Thân chết, hồn chơi vơi, nấm xương không ai góp nhặt,
Đã thành con ma nhớ quê nhà ở Vân Nam.
Khóc rền rĩ trên bãi những nấm mồ chôn vạn thân xác.
Lời kể của lão, ngươ hãy lắng nghe.
Ngươi chưa từng nghe qua tể tướng Tống khai phủ đời Khai Nguyên,
Không thưởng công chuyện mở rộng biên cương để phòng kẻ lạm dụng vũ lực đó sao?
Lại chẳng biết tể tướng Dương Quốc Trung đời Thiên Bảo,
Vì muốn được ân sủng thưởng ban của vua mà đã lập công bằng cách mở rộng biên cương đó sao?
Biên công chưa lập thì lòng dân đã oán hận rồi.
Xin hãy hỏi ông lão đất Tân Phong sẻ rõ thôi!

Tần trung ngâm kỳ 01 – Nghị hôn

天下無正聲,
悅耳即為娛。
人間無正色,
悅目即為姝。
顏色非相遠,
貧富則有殊。
貧為時所棄,
富為時所趨。
紅樓富家女,
金縷繡羅襦。
見人不斂手,
嬌癡二八初。
母兄未開口,
已嫁不須臾。
綠窗貧家女,
寂寞二十餘。
荊釵不直錢,
衣上無真珠。
幾回人欲聘,
臨日又踟躕。
主人會良媒,
置酒滿玉壺。
四座且勿飲,
聽我歌兩途。
富家女易嫁,
嫁早輕其夫。
貧家女難嫁,
嫁晚孝於姑。
聞君欲娶婦,
娶婦意何如?

Tần trung ngâm kỳ 01 – Nghị hôn

Thiên hạ vô chính thanh,
Duyệt nhĩ tức vi ngu.
Nhân gian vô chính sắc,
Duyệt mục tức vi xu.
Nhan sắc phi tương viễn,
Bần phú tắc hữu thù.
Bần vi thì sở khí,
Phú vi thì sở xu.
Hồng lâu phú gia nữ,
Kim lũ tú la nhu.
Kiến nhân bất liễm thủ,
Kiều si nhị bát sơ.
Mẫu huynh vị khai khẩu,
Dĩ giá bất tu du.
Lục song bần gia nữ,
Tịch mịch nhị thập dư.
Kinh thoa bất trực tiền,
Y thượng vô chân châu.
Kỷ hồi nhân dục sính,
Lâm nhật hựu trì trù.
Chủ nhân hội lương môi,
Trí tửu mãn ngọc hồ.
Tứ toạ thả vật ẩm,
Thính ngã ca lưỡng đồ.
Phú gia nữ dị giá,
Giá tảo khinh kỳ phu.
Bần gia nữ nan giá,
Giá vãn hiếu ư cô.
Văn quân dục thú phụ,
Thú phụ ý hà như?

Tần trung ngâm kỳ 02 – Trọng phú

厚地植桑麻,
所要濟生民。
生民理布帛,
所求活一身。
身外充徵賦,
上以奉君親。
國家定兩稅,
本意在憂人。
厥初防其淫,
明敕內外臣:
稅外加一物,
皆以枉法論。
奈何歲月久,
貪吏得因循。
浚我以求寵,
斂索無冬春。
織絹未成匹,
繰絲未盈斤。
裏胥迫我納,
不許暫逡巡。
歲暮天地閉,
陰風生破村。
夜深煙火盡,
霰雪白紛紛。
幼者形不蔽,
老者體無溫。
悲喘與寒氣,
併入鼻中辛。
昨日輸殘稅,
因窺官庫門:
繒帛如山積,
絲絮似雲屯。
號為羨餘物,
隨月獻至尊。
奪我身上暖,
買爾眼前恩。
進入瓊林庫,
歲久化為塵!

Tần trung ngâm kỳ 02 – Trọng phú

Hậu địa thực tang ma,
Sở yếu tế sinh dân.
Sinh dân lý bố bạch,
Sở cầu hoạt nhất thân.
Thân ngoại sung trưng phú,
Thượng dĩ phụng quân thân.
Quốc gia định lưỡng thuế,
Bản ý tại ưu nhân.
Quyết sơ phòng kỳ dâm,
Minh sắc nội ngoại thần:
Thuế ngoại gia nhất vật,
Giai dĩ uổng pháp luận.
Nại hà tuế nguyệt cửu,
Tham lại đắc nhân tuần.
Tuấn ngã dĩ cầu sủng,
Liễm sách vô đông xuân.
Chức quyên vị thành thất,
Tảo ty vị doanh cân.
Lý tư bách ngã nạp,
Bất hứa tạm thuân tuần.
Tuế mộ thiên địa bế,
Âm phong sinh phá thôn.
Dạ thâm yên hoả tận,
Tản tuyết bạch phân phân.
Ấu giả hình bất tế,
Lão giả thể vô ôn.
Bi suyễn dữ hàn khí,
Tính nhập tỵ trung tân.
Tạc nhật thâu tàn thuế,
Nhân khuy quan khố môn:
Tăng bạch như sơn tích,
Ty nhứ tự vân đồn.
Hiệu vi tiện dư vật,
Tuỳ nguyệt hiến chí tôn.
Đoạt ngã thân thượng noãn,
Mãi nhĩ nhãn tiền ân.
Tiến nhập Quỳnh Lâm khố,
Tuế cửu hoá vi trần!

Dịch nghĩa

Đất tốt trồng dâu và đay,
Chủ yếu để người dân sinh sống.
Ngưởi dân dệt ra vải và lụa,
Cho nhu cầu sinh hoạt của chính mình.
Ngoài ra còn đóng thuế,
Cao hơn là để dâng vua và phụng dưỡng mẹ cha.
Quy định mỗi năm đóng hai kỳ thuế,
Với ý chính là lo cho dân.
Ban đầu để đề phòng quan lại lạm dụng,
Sắc lệnh rõ ràng cho cả quan trong triều và địa phương.
Rằng nếu thâu thêm ngoài thuế dù chỉ một vật,
Cũng đều vi phạm pháp luật.
Nhưng rồi qua năm tháng lâu dài,
Bọn quan lại tham lam theo lề thói cũ.
Đục khoét ta để được bề trên yêu thương,
Thu gom, nhũng nhiễu không kể hai vụ đông và xuân.
Vải và lụa dệt chưa thành tấm,
Tơ ươm chưa đủ cân.
Bọn hương quản đã thúc bách ta nạp,
Không cho tạm hoãn từ từ.
Cuối năm trời đất vào thu đông,
Gió lạnh thổi vào thôn xóm.
Đêm dài không khói không lửa để sưởi,
Mưa tuyết trắng xoá kéo dài.
Trẻ nhỏ không đồ che thân,
Người già áo không đủ ấm.
Đã mang bệnh suyễn, lại gặp hơi lạnh,
Hít vào thấy cay nơi mũi.
Hôm qua gom hết tài sản đi đóng thuế,
Nhân ngó qua cửa kho nhà quan.
Thấy lụa trắng chất cao như núi,
Tơ tằm, sợi bông nhiều như mây đùn.
Người coi kho nói đó là đồ còn dư,
Số này hàng tháng sẽ dâng lên vua.
Các người cướp đoạt áo ấm trên thân ta,
Trước mắt để mua ân sủng của vua cho các người.
Dâng vải, lụa vào kho Quỳnh Lâm,
Nhiều năm sau không dùng tới sẽ hoá thành bụi.

Trên đây, uct.edu.vn chia sẻ cho các bạn kho tàng thơ Bạch Cư Dị cực hấp dẫn và nổi tiếng. Ông sở hữu một phong cách thơ đậm chất trữ tình gây ấn tượng mạnh đối với độc giả. Ông thường viết với những nội dung như ca tụng hay châm biếm, mỉa mai kín đáo thu hút sự chú ý đối với người yêu thơ. Cảm ơn các bạn đã đón xem bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm: Nhà thơ Bạch Cư Dị cùng kho tàng thơ đặc sắc phần 8