Nguyễn Trãi với tập thơ Ức Trai thi tập – Tập thơ chữ Hán đặc sắc P2

Giới thiệu đến quý độc giả yêu thơ phần thơ tiếp theo của tập thơ Ức trai thi tập Nguyễn Trãi. Đây là phần thơ được nhà thơ sáng tác vào giai đoạn tỏ ý chán nản và muốn về quê ở ẩn. Phần thơ gồm 23 bài thơ.

Phần thơ tỏ ý chán nản và muốn về nghỉ

Ngẫu thành (II) 偶成 • Ngẫu nhiên làm (II)

偶成
世上黃梁一夢餘,
覺來萬事總成虛。
如今只愛山中住,
結屋花邊讀舊書。
Ngẫu thành (II)
Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
Kết ốc hoa biên độc cựu thư.
Dịch nghĩa
Đời là kết quả của một giấc mộng kê vàng
Tỉnh ra mới biết vạn sự đều hóa thành không cả
Như nay ta chỉ thích ở chốn núi non
Làm nhà bên hoa mà đọc sách xưa.

Vãn lập 晚立 • Đứng trông cảnh chiều

晚立
長天漠漠水悠悠,
黃落山河屬暮秋。
羨殺花邊雙白鳥,
人間累不到滄洲。
Vãn lập
Trường thiên mạc mạc thuỷ du du,
Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.
Tiện sát hoa biên song bạch điểu,
Nhân gian luỵ bất đáo thương châu.
Dịch nghĩa
Trời rộng bát ngát, nước mênh mông
Lá vàng rụng, nước non đã vào cuối thu
Lòng mến bắt gặp đôi chim trắng bên hoa
Luỵ nhân gian chẳng đến nơi cồn bãi này.

Đề sơn điểu hô nhân đồ 題山鳥呼人圖 • Đề bức hoạ “Chim núi gọi người”

題山鳥呼人圖
深山寂寂鳥呼人,
畫裏看來亦逼真。
閒掛午窗朝退日,
夢回疑是故園春。
Đề sơn điểu hô nhân đồ
Thâm sơn tịch tịch điểu hô nhân,
Hoạ lý khan lai diệc bức chân.
Nhàn quải ngọ song triêu thoái nhật,
Mộng hồi nghi thị cố viên xuân.

Đề Đông Sơn tự 題東山寺 • Đề chùa Đông Sơn

題東山寺
君親一念久嬰懷,
澗愧林慚夙願乖。
三十餘年塵境夢,
數聲啼鳥喚初回。
Đề Đông Sơn tự
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
Tam thập dư niên trần cảnh mộng,
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.
Dịch nghĩa
Một niềm (trung hiếu) nhớ mãi đối với vua và cha
Thẹn với núi rừng vì đã sai lời nguyền xưa
Ba chục năm thừa mộng ở cõi trần
Vài tiếng chim kêu thức tỉnh lại như trước.

Hoạ Hương tiên sinh vận giản chư đồng chí 和鄉先生韻柬諸同志 • Hoạ thơ của Hương tiên sinh lưu giản các đồng chí

和鄉先生韻柬諸同志
愁來咄咄漫書空,
天地無窮嘆轉蓬。
世事灰心頭向白,
衰顏借酒暈生紅。
覽輝擬學鳴陽鳳,
遠害終為避弋鴻。
淪落天涯俱是客,
年來出處略相同。
Hoạ Hương tiên sinh vận giản chư đồng chí
Sầu lai đốt đốt mạn thư không,
Thiên địa vô cùng thán chuyển bồng.
Thế sự hôi tâm đầu hướng bạch,
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng.
Lâm huy nghĩ học minh dương phụng,
Viễn hại chung vi tị dặc hồng.
Luân lạc thiên nhai câu thị khách,
Niên lai xuất xứ lược tương đồng.
Dịch nghĩa
Chao ôi (cha cha) mối sầu đến viết lên đầy trời!
Khó (cho ta) là di chuyển như ngọn cỏ bồng trong trời đất vô biên này
Cuộc đời khiến lòng người nguội lạnh như tro tàn, tóc bạc dần
Thần sắc kém, mượn rượu để làm ửng đỏ lên
Nhìn ánh sáng muốn bắt chước chim phượng hót trong ánh dương
Rốt cuộc làm chim hồng tránh tên để xa nguy hại
(Chúng ta) đều là khách luân lạc ở chân trời
Lâu nay xuất hay xử cũng giống nhau.

Mạn hứng (I) kỳ 1 漫興其一 • Mạn hứng (I) kỳ 1

漫興其一
世路蹉跎雪上巔,
一生落魄更堪憐。
兒孫種福留心地,
魚鳥忘情樂性天。
掃雪煮茶軒竹下,
焚香對案閣梅邊。
故山昨夜纏清夢,
月滿平灘酒滿船。
Mạn hứng (I) kỳ 1
Thế lộ sa đà tuyết thượng điên,
Nhất sinh lạc thác cánh kham liên.
Nhi tôn chủng phúc lưu tâm địa,
Ngư điểu vong tình lạc tính thiên.
Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ,
Phần hương đối án các mai biên.
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng,
Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền.

Mạn hứng (I) kỳ 2 漫興其二 • Mạn hứng (I) kỳ 2

漫興其二
烏兔匆匆挽不留,
回頭萬事總宜休。
空花幻眼眠蕉鹿,
俗境驚心喘月牛。
矮屋棲身堪度老,
蒼生在念獨先憂。
彭殤臧穀都休論,
古往今來貉一丘。
Mạn hứng (I) kỳ 2
Ô thố thông thông vãn bất lưu,
Hồi đầu vạn sự tổng nghi hưu.
Không hoa huyễn nhãn miên tiêu lộc,
Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngưu.
Ải ốc thê thân kham độ lão,
Thương sinh tại niệm độc tiên ưu.
Bành thương tang cốc đô hưu luận,
Cổ vãng kim lai lạc nhất khưu.
Dịch nghĩa
Ngày và đêm qua vùn vụt không ngừng lại
Quay nhìn mọi việc thấy đều nên ngưng là vừa
Hoa mắt tưởng chiêm bao thấy lá chuối giấu con hưu
Nhìn cảnh tục lòng sợ như trâu sợ trăng thở phì phào
Mái nhà nhỏ nương mình có thể qua tuổi già
Vì dân đen luôn luôn để dạ lo trước cho họ
Sống lâu hay chết yểu (như Tang và Cốc) khỏi bàn luận làm gì
Xưa nay xem như loài chồn ở cùng một gò cả.

Khất nhân hoạ Côn Sơn đồ 乞人畫崑山圖 • Nhờ người vẽ tranh Côn Sơn

乞人畫崑山圖
平生邱壑廢登臨,
亂後家鄉費夢尋。
石畔松風孤勝賞,
澗邊梅影負清吟。
煙霞冷落腸堪斷,
猿鶴蕭條意匪禁。
憑仗人間高畫手,
筆端寫出一般心。
Khất nhân hoạ Côn Sơn đồ
Bán sinh khâu hác phế đăng lâm,
Loạn hậu gia hương phí mộng tầm.
Thạch bạn tùng phong cô thắng thưởng,
Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm.
Yên hà lãnh lạc trường kham đoạn,
Viên hạc tiêu điều ý phỉ câm.
Bằng trượng nhân gian cao hoạ thủ,
Bút đoan tả xuất nhất ban tâm.
Dịch nghĩa
Nửa đời phải bỏ cái thú đi ngoạn thưởng gò núi hang hốc khe suối
Sau loạn, uổng công tìm quê hương trong giấc chiêm bao
Cạnh ghềnh đá, gió thông không ai thưởng thức
Bên khe nước, bóng mai đành phụ thú ngâm nga
Khói ráng chiều quạnh quẽ, buồn muốn đứt ruột
Vượn hạc tiều điều, cảm xúc khó cầm
Muốn nhờ tay vẽ giỏi trên đời
Lấy bút tả hết nỗi lòng ta.

Đề Trình xử sĩ vân oa đồ 題程處士雲窩圖 • Đề tranh am mây của Trình xử sĩ

題程處士雲窩圖
佳客相逢日抱琴,
故山歸去興何深。
香浮瓦鼎風生樹,
月照苔磯竹滿林。
洗盡塵襟花外茗,
喚回午夢枕邊禽。
日長隱几忘言處,
人與白雲誰有心。
Đề Trình xử sĩ vân oa đồ
Giai khách tương phùng nhật bão cầm,
Cố sơn quy khứ hứng hà thâm.
Hương phù ngoã đỉnh phong sinh thụ,
Nguyệt chiếu đài cơ trúc mãn lâm.
Tẩy tận trần khâm hoa ngoại mính,
Hoán hồi ngọ mộng chẩm biên cầm.
Nhật trường ẩn kỷ vong ngôn xứ,
Nhân dữ bạch vân thuỳ hữu tâm.
Dịch nghĩa
Khách quý gặp nhau ôm đàn gảy suốt ngày
Trở về núi cũ hứng thú biết bao!
Hương bốc lên ở đỉnh sành, gió rung cây
Trăng chiếu xuống ghềnh rêu, trúc đầy rừng
Muốn tẩy sạch lòng trần có đọt trà ngoài chỗ hoa viên
Để gọi tỉnh giấc mộng ban trưa, có tiếng chim bên gối
Suốt ngày tựa ghế quên cả nói
Thử hỏi giữa người và mây trắng kia ai là có tâm tình?

Đề Từ Trọng Phủ Canh Ẩn đường 題徐仲甫耕隱堂 • Đề nhà Canh Ẩn của Từ Trọng Phủ

題徐仲甫耕隱堂
去怕繁花沓軟塵,
一犁岩畔可藏身。
商家令佐稱莘野,
漢世高風仰富春。
松菊猶存歸未晚,
利名不羨隱方真。
嗟余久被儒冠誤,
本是耕閒釣寂人。
Đề Từ Trọng Phủ Canh Ẩn đường
Khứ phạ phồn hoa đạp nhuyễn trần,
Nhất lê nham bạn khả tàng thân.
Thương gia lệnh tá xưng Sằn Dã,
Hán thế cao phong ngưỡng Phú Xuân.
Tùng cúc do tồn quy vị vãn,
Lợi danh bất tiển ẩn phương chân.
Ta dư cửu bị nho quan ngộ,
Bổn thị canh nhàn điếu tịch nhân.
Dịch nghĩa
(Ông) từ bỏ chốn xa hoa đầy bụi bặm
Đến đây tự giấu mình để cày bên núi đá
Sằn Dã (Y Doãn) từng lưu tiếng phục vụ tốt cho nhà Thương
Noi gương đỉnh Phú Xuân (tức Nghiêm Tử Lăng) về vụ vua Hán mời ra phục vụ (mà không nhận)
Lúc trở về tùng cúc đang còn đấy
Lợi danh chẳng tiện gì, ở ẩn là phương sách chân thực
Tự than mình đã lâu bị ngộ nhận vì vẻ nho quan
Vốn chỉ thích cày ruộng, câu cá, sống đời ẩn dật.

Đề Hà hiệu uý “Bạch vân tư thân” 題何校尉白雲思親 • Đề thơ “Trông mây trắng nhớ cha mẹ” của quan hiệu uý họ Hà

題何校尉白雲思親
庭闈一別歲花深,
愛慕人皆共此心。
客裡看雲情易切,
公餘披卷意難禁。
家山孰不懷桑梓,
忠孝何曾有古今。
持此贈君還自感,
詩成我亦淚沾襟。
Đề Hà hiệu uý “Bạch vân tư thân”
Đình vi nhất biệt tuế hoa thâm,
Ái mộ nhân giai cộng thử tâm.
Khách lí khán vân tình dị thiết,
Công dư phi quyển ý nan câm.
Gia sơn thục bất hoài tang tử,
Trung hiếu hà tằng hữu cổ câm (kim).
Trì thử tặng quân hoàn tự cảm,
Thi thành ngã diệc lệ triêm khâm.
Dịch nghĩa
Từ khi cách biệt cha mẹ, đã nhiều năm qua
Tình yêu mến, người ta đều cùng một tấm lòng đó
Nơi đất khách trông mây, tình dễ tha thiết
Xong việc công, mở sách, cảm xúc khó cầm
Tình quê hương, ai chẳng nhớ cây dâu cây tử
Lòng trung hiếu có bao giờ phân biệt xưa và nay
Cầm bài này tặng ông, lại tự thấy cảm động
Thơ làm xong, ta cũng nước mắt ướt vạt áo

Thu nhật ngẫu thành 秋日偶成 • Ngẫu hứng ngày thu

秋日偶成
蕭蕭墜葉響庭皋,
病骨纔蘇氣轉豪。
天地斯文從古重,
湖山清興入秋高。
鏡中白髮佳人老,
身外浮名謾爾勞。
緬想故圓三徑菊,
夢魂夜夜上歸舠。
Thu nhật ngẫu thành
Tiêu tiêu truỵ diệp hưởng đình cao,
Bệnh cốt tài tô khí chuyển hào.
Thiên địa tư văn tùng cổ trọng,
Hồ sơn thanh hứng nhập thu cao.
Kính trung bạch phát giai nhân lão,
Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao.
Miến tưởng cố viên tam kính cúc,
Mộng hồn dạ dạ thượng quy đao.
Dịch nghĩa
Lá rụng tiêu điều nghe tiếng vì vèo ngoài sân
Bệnh nặng vừa khỏi, lấy lại được hào khí
Nền tư văn của trời đất từ xưa vốn được trọng nể
Nguồn cảm hứng với non nước sang mùa thu càng cao
Xem gương thấy tóc đã bạc, cũng già như thiên hạ
Danh hão ở ngoài cái thân con người, chỉ đưa đến sự nhọc mà thôi
Nhớ về vườn cũ xa vời ba luống cúc
Đêm đêm hồn mộng cứ giục lên thuyền để về.

Mạn hứng (II) kỳ 1 漫興其一 • Mạn hứng (II) kỳ 1

漫興其一
朴散淳漓聖道湮,
吾儒事業杳無聞。
逢時不作商岩雨,
退老思耕谷口雲。
每嘆百年同過客,
何曾一飯忍忘君。
人生識字多憂患,
坡老曾云我亦云。
Mạn hứng (II) kỳ 1
Phác tán thuần ly thánh đạo nhân,
Ngô nho sự nghiệp yểu vô văn.
Phùng thời bất tác Thương Nham vũ,
Thối lão tư canh Cốc Khẩu vân.
Mỗi thán bách niên đồng quá khách,
Hà tằng nhất phạn nhẫn vong quân.
Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn,
Pha lão tằng vân ngã diệc vân.
Dịch nghĩa
Những gì gọi là thuần phác đều tan rã, đạo Thánh bị chìm
Sự nghiệp của nhà nho ta lu mờ chẳng có tiếng tăm gì
Gặp thời chẳng tạo được mưa ở Thương Nham
Lúc già trở về cày mây ở Cốc Khẩu
Thường than trăm năm của cõi đời y như khách qua đường
Chưa từng lúc nào ăn một bữa cơm mà không nhớ đến vua
Con người sinh ra biết chữ nghĩa gặp nhiều nạn phải lo lắng
Ông già Tô (Tô Đông Pha) hằng nói thế, ta cũng nói thế.

Mạn hứng (II) kỳ 2 漫興其二 • Mạn hứng (II) kỳ 2

漫興其二
九萬摶風記昔曾,
當年錯比北溟鵬。
虛名自嘆成箕斗,
後學誰將作準繩。
一片丹心真汞火,
十年清職玉壺冰。
優遊且復言余好,
俯仰隨人謝不能。
Mạn hứng (II) kỳ 2
Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng,
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng.
Hư danh tự thán thành cơ đẩu,
Hậu học thuỳ tương tác chuẩn thằng.
Nhất phiến đan tâm chân hống hoả,
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu,
Phủ ngưỡng tuỳ nhân tạ bất năng.
Dịch nghĩa
Nhớ xưa từng có ý muốn cưỡi gió lên chín vạn dặm cao
Bây giờ toan tự sánh mình với chim bằng ở biển bắc
(Tự thẹn) hư danh (vô dụng) chẳng khác nào sao cơ sao đẩu
Kẻ học sau ai lại đem mình ra làm mức làm chuẩn
Một tấm lòng son sắt như lò lửa luyện kim đan
Mười năm phục vụ liêm khiết trong như bầu ngọc
Lại bảo rằng ta ưa thanh nhàn
Còn như cúi mình theo người thì ta không có khả năng.

Mạn hứng (II) kỳ 3 漫興其三 • Mạn hứng (II) kỳ 3

漫興其三
小院陰陰石徑斜,
翛然宦況似僧家。
官情易怯傷弓鳥,
暮影難留赴壑蛇。
夢覺故園三徑菊,
心清活水一甌茶。
回頭六十年前事,
雙鬢星星兩眼花。
Mạn hứng (II) kỳ 3
Tiểu viện âm âm thạch kính tà,
Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia.
Quan tình dị khiếp thương cung điểu,
Mộ cảnh nan lưu phó hác xà.
Mộng giác cố viên tam kính cúc,
Tâm thanh hoạt thuỷ nhất âu trà.
Hồi đầu lục thập niên tiền sự,
Song mấn tinh tinh lưỡng nhãn hoa.

Mạn thành (I) kỳ 1 漫成其一 • Tản mạn (I) kỳ 1

漫成其一
眼中浮世總浮雲,
蝸角驚看日晉秦。
天或喪斯知有命,
邦如有道亦羞貧。
陳平自信能為宰,
杜甫誰憐已誤身。
世事不知何日了,
扁舟歸釣五湖春。
Mạn thành (I) kỳ 1
Nhãn trung phù thế tổng phù vân,
Oa giác kinh khan nhật Tấn Tần.
Thiên hoặc táng tư tri hữu mệnh,
Bang như hữu đạo diệc tu bần.
Trần Bình tự tín năng vi tể,
Đỗ Phủ thùy liên dĩ ngộ thân.
Thế sự bất tri hà nhật liễu,
Biển chu quy điếu Ngũ Hồ xuân.
Dịch nghĩa
Nhìn vào cuộc thế đều là mây nổi cả
Sợ thấy cảnh Tấn Tần tương tranh hằng ngày như chuyện sừng ốc sên
Khi Trời đã bỏ mất nền tư văn tất có mệnh
Nước có đạo đức mà nghèo thì cũng xấu hổ
Trần Bình tự tin có thể làm tể tướng
Đỗ Phủ ai ngờ bị lầm lẫn mà thân phải khổ
Việc đời không biết ngày nào xong
Chèo một con thuyền nhỏ về câu cá mùa xuân ở Ngũ Hồ (là tốt).

Mạn thành (I) kỳ 2 漫成其二 • Tản mạn (I) kỳ 2

漫成其二
博山香燼午窗虛,
懶性從來愛索居。
家有琴書兒輩樂,
門無車馬故人疏。
齏鹽隨分安衡泌,
湖海棲身憶釣魚。
與世漸疏頭向白,
東山日日賦歸輿。
Mạn thành (I) kỳ 2
Bác sơn hương tẫn ngọ song hư,
Lạn tính tòng lai ái tác cư.
Gia hữu cầm thư nhi bối lạc,
Môn vô xa mã cố nhân sơ.
Tê diêm tuỳ phận an hoành bí,
Hồ hải thê thân ức điếu ngư.
Dữ thế tiệm sơ đầu hướng bạch,
Đông Sơn nhật nhật phú quy dư.
Dịch nghĩa
Lò trầm hương đã cháy hết, cửa sổ buổi trưa để ngỏ
Tính lười trước nay vốn thích ở một mình
Nhà có đàn có sách thì con cháu vui
Ngoài cửa không có xe ngựa tức bạn bè xa
An phận muối dưa nơi cửa ngõ thô sơ, nước non rộng rãi
Nương mình chỗ hồ biển nhớ thú chài lưới
Dần bớt thân thiện với cuộc đời đầu tóc đã đốm bạc
Ngày ngày cứ nuôi ý về núi Đông Sơn chăng?

Thù hữu nhân kiến ký 酬友人見寄 • Đáp thư bạn

酬友人見寄
矯矯龍襄萬斛舟,
安行每懼覆中流。
事堪涕淚非言說,
運落風波豈智謀。
身外浮名煙閣迥,
夢中花鳥故山幽。
慇懃堪謝鄉中友,
聊把新詩寫我愁。
Thù hữu nhân kiến ký
Kiểu kiểu long tương vạn hộc chu,
An hành mỗi cụ phúc trung lưu.
Sự kham thê lệ phi ngôn thuyết,
Vận lạc phong ba khởi trí mưu.
Thân ngoại phù danh Yên Các quýnh,
Mộng trung hoa điểu cố sơn u.
Ân cần kham tạ hương trung hữu,
Liêu bả tân thi tả ngã sầu.
Dịch nghĩa
Con thuyền muôn hộc lướt mạnh mẽ như rồng
Dù đi yên ổn nhưng vẫn sợ bị lật giữa dòng
Việc đáng ứa lệ nhưng không nói được
Vận rơi vào cảnh phong ba, mưu trí thế nào được
Phù danh ở ngoài bản thân mình, xa rời Yên Các
Hoa và chim ở trong giấc mơ, cảnh non quê lặng lẽ
Ân cần xin tạ lòng các bạn trong làng
Tạm mang mấy vần thơ mới để giải bày mối sầu của ta.

Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 1 和友人煙霞寓興其一 • Hoạ bài thơ “Yên hà ngụ hứng” của bạn kỳ 1

和友人煙霞寓興其一
蓬萊弱水杳無涯,
俗境低回髮半花。
雲外故居空蕙帳,
月中清夢遶山家。
心如野鶴飛天際,
跡似征鴻踏雪沙。
岩穴棲身何日是,
天門回首五雲賒。
Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 1
Bồng Lai Nhược Thuỷ diểu vô nha (nhai),
Tục cảnh đê hồi phát bán hoa.
Vân ngoại cố cư không huệ trướng,
Nguyệt trung thanh mộng nhiễu sơn gia.
Tâm như dã hạc phi thiên tế,
Tích tự chinh hồng đạp tuyết sa.
Nham huyệt thê thân hà nhật thị?
Thiên môn hồi thủ ngũ vân xa.
Dịch nghĩa
Non Bồng nước Nhược mịt mờ không bờ bến,
Cảnh tục quẩn quanh tóc đã hoa râm một nửa.
Nơi ở cũ ngoài mây, bỏ không trướng huệ,
Giấc mộng thanh đêm trăng, dạo quanh nhà trên núi.
Lòng như hạc nội bay giữa bầu trời,
Dấu tựa chim hồng dẫm trên bãi tuyết.
Ngày nào mới được về nương thân nơi hang đá,
Quay đầu nhìn cửa trời, năm thức mây đã xa.

Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 2 和友人煙霞寓興其二 • Hoạ bài thơ “Yên hà ngụ hứng” của bạn kỳ 2

和友人煙霞寓興其二
茆屋三間野水涯,
少年剝洛舊紛華。
得安份處仍隨分,
未出家時且駐家。
檻裡雲山無寵辱,
城中軒冕總塵沙。
葛翁一去今千載,
丹灶寒煙歲月賒。
Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 2
Mao ốc tam gian dã thuỷ nha (nhai),
Thiếu niên bác lạc cựu phân hoa.
Đắc an phận xứ nhưng tuỳ phận,
Vị xuất gia thì thả trú gia.
Hạm lý vân sơn vô sủng nhục,
Thành trung hiên miện tổng trần sa.
Cát ông nhất khứ kim thiên tải,
Đơn táo hàn yên tuế nguyệt xa.
Dịch nghĩa
Ba gian nhà cỏ ở bờ nước trong đồng nội
Buổi thiếu niên đã tránh được (bỏ rơi) cảnh sống phồn hoa
Được chỗ yên phận thì cứ yên phận
Chưa đến lúc xuất gia (phò việc nước) thì cứ phải ở nhà
Trong cửa nhìn ra mây núi không thấy vinh nhục nữa
Xe cộ áo mão trong thành thảy đều là cát bụi cả
Cát Ông đã ra đi đến nay là nghìn năm rồi
Bếp luyện linh đơn đã tàn tro lạnh khói bao nhiêu năm tháng xa xưa.

Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 3 和友人烟霞寓興其三 • Hoạ bài thơ “Yên hà ngụ hứng” của bạn kỳ 3

和友人烟霞寓興其三
仙書數卷舊生涯,
饑食松根嚼日華。
竹有千竿欄俗客,
塵無半點到山家。
瑤階鶴唳窗斜月,
釣渚魚寒棹擱沙。
徒覺壺中風月好,
年年不用一錢賒。
Hoạ hữu nhân Yên hà ngụ hứng kỳ 3
Tiên thư sổ quyển cựu sinh nha (nhai),
Cơ thực tùng căn tước nhật hoa.
Trúc hữu thiên can lan tục khách,
Trần vô bán điểm đáo tiên gia.
Diêu giai hạc lệ song tà nguyệt,
Điếu chử ngư hàn trạo các sa.
Đồ giác hồ trung phong nguyệt hảo,
Niên niên bất dụng nhất tiền xa.
Dịch nghĩa
Vài cuốn sách tiên vốn sinh nhai cũ
Đói thì ăn rễ tùng và hớp ánh sáng mặt trời
Trúc có cả nghìn cây để ngăn khách tục khỏi đến
Không có lấy nửa hạt bụi vướng cảnh nhà tiên (nhà trong núi)
Hạc kêu ở thềm ngọc, trăng chiếu qua song cửa
Bến câu cá lạnh lẽo, mái chèo gác trên cát
Tự mình biết có trăng đẹp trong bầu thời gian
Năm này qua năm khác chẳng hề tốn tiền mua.

Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn 送僧道謙歸山 • Tiễn sư Đạo Khiêm về núi

送僧道謙歸山
記曾講學十餘年,
今又相逢一夜眠。
且喜夢中拋俗事,
更尋石上話前緣。
明朝靈浦還飛錫,
何日崑山共聽泉。
老去狂言休怪我,
臨岐我亦上乘禪。
Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn
Ký tằng giảng học thập dư niên,
Kim hựu tương phùng nhất dạ miên.
Thả hỷ mộng trung phao tục sự,
Cánh tầm thạch thượng thoại tiền duyên.
Minh triêu Linh phố hoàn phi tích,
Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền ?
Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã,
Lâm kỳ ngã diệt Thượng Thừa Thiền.
Dịch nghĩa
Nhớ từng giảng học hơn mười năm
Nay lại gặp nhau ngủ một đêm với nhau
Vả mừng trong mộng bỏ hết việc tục
Lại tìm lên núi để nói chuyện tiền duyên
Rạng mai sẽ bay gậy về bến Chí Linh
Ngày nào mới cùng nghe suối ở Côn Sơn được?
Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta
Từ biệt nhau rồi thì ta cũng sẽ tu đạo Thiền Thượng Thừa

Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (II) 海口夜泊有感 • Cảm hứng đêm đậu thuyền ở cửa biển (II)

海口夜泊有感
湖海年來興未闌,
乾坤到處覺心寬。
眼邊春色薰人醉,
枕上潮聲入夢寒。
歲月無情雙鬢白,
君親在念寸心丹。
一生事業殊堪笑,
嬴得虛名落世間。
Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (II)
Hồ hải niên lai hứng vị lan,
Càn khôn đáo xứ giác tâm khoan.
Nhãn biên xuân sắc huân nhân tuý,
Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn.
Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch,
Quân thân tại niệm thốn tâm đan.
Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu,
Doanh đắc phù sinh lạc thế gian.
Dịch nghĩa
Hứng hải hồ những năm lại đây chưa thấy tàn
Đến đâu trong trời đất cũng cảm thấy lòng khoan khoái ung dung
Sắc mùa xuân như xông vào mắt khiến ngây ngất
Thủy triều vỗ mạnh trên gối nghe lạnh lùng
Năm tháng qua không ngờ mái tóc đã bạc
Vẫn để dạ một lòng với vua và cha
Sự nghiệp một đời qua là đáng cười
Lãi chăng là được chút danh hão giữa thế gian.

Xem tiếp: Nguyễn Trãi với tập thơ Ức Trai thi tập – Tập thơ chữ Hán đặc sắc P3